Gia Lai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng hiệu quả sản xuất vùng đồng bào dân tộc thiểu số
<p style="text-align: justify;"><b>Mô hình chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng ngô sinh khối tại xã Ia Sao, tỉnh Gia Lai đạt năng suất trên 50 tấn/ha nhờ ứng dụng giống mới và quy trình thâm canh phù hợp. Kết quả bước đầu cho thấy triển vọng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển sản xuất và cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số.</b></p>
Trên những diện tích đất lúa một vụ thường xuyên thiếu nước tại xã Ia Sao, việc đưa giống ngô sinh khối vào canh tác đang mở ra hướng chuyển đổi cây trồng phù hợp với điều kiện sản xuất địa phương. Thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, người dân từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giảm sự phụ thuộc vào phương thức canh tác truyền thống.
Năm 2025, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Gia Lai triển khai mô hình chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng ngô sinh khối trên diện tích 2 ha, với sự tham gia của 4 hộ dân. Các hộ được hỗ trợ giống, phân bón và vật tư thiết yếu, đồng thời được hướng dẫn quy trình kỹ thuật từ làm đất, gieo trồng đến chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch.
Việc lựa chọn cây ngô sinh khối xuất phát từ thực tế nhiều diện tích lúa một vụ tại địa phương thường xuyên thiếu nước tưới, hiệu quả canh tác chưa cao. Thay vì tiếp tục duy trì cây trồng không còn phù hợp, mô hình hướng đến khai thác hiệu quả điều kiện đất đai, đồng thời tạo nguồn nguyên liệu phục vụ chăn nuôi.
Ứng dụng giống mới, nâng cao năng suất cây trồng
Điểm nổi bật của mô hình là sử dụng giống ngô NK7328 Bt/GT kết hợp các biện pháp thâm canh nhằm nâng cao năng suất sinh khối phục vụ chăn nuôi.
Theo kỹ sư Lê Thị Thu Thảo, cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông, giống ngô này có khả năng thích nghi với nhiều điều kiện sinh thái, thân cây cứng, chống đổ tốt và chống chịu một số bệnh hại, đặc biệt là bệnh đốm lá lớn, đốm lá nhỏ. Bộ lá duy trì màu xanh đến thời điểm thu hoạch, phù hợp với yêu cầu sản xuất ngô sinh khối.

Cán bộ kỹ thuật và người dân tham quan mô hình trồng ngô sinh khối tại xã Ia Sao, Gia Lai.
Khác với ngô lấy hạt, ngô sinh khối được thu hoạch cả thân, lá và bắp. Do đó, việc lựa chọn giống phù hợp, xác định mật độ gieo trồng, bón phân cân đối và chăm sóc đúng kỹ thuật có vai trò quan trọng trong nâng cao năng suất, chất lượng nguyên liệu.
Trong quá trình triển khai, cán bộ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn người dân làm đất, lên luống, bón lót, gieo trồng đúng mật độ và theo dõi sâu bệnh. Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật giúp các hộ chủ động hơn trong sản xuất, hạn chế những bất cập của phương thức canh tác dựa nhiều vào kinh nghiệm.
Sau 75–85 ngày gieo trồng, mô hình đạt năng suất trên 50 tấn ngô sinh khối/ha, mang lại hiệu quả kinh tế khả quan. Kết quả bước đầu cho thấy tiềm năng nâng cao hiệu quả sử dụng diện tích đất lúa kém năng suất thông qua ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Chuyển giao kỹ thuật gắn với cải thiện sinh kế
Bên cạnh hiệu quả sản xuất, mô hình còn góp phần thay đổi tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số.
Ông Nay Thôn, một trong những hộ tham gia, cho biết trước đây gia đình trồng lúa một vụ nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao. Sau khi chuyển sang trồng ngô sinh khối bán cho trang trại chăn nuôi bò, gia đình có thêm nguồn thu, đồng thời giảm nhu cầu nước tưới.

Thu hoạch ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi.
Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Gia Lai, qua hoạt động chuyển giao kỹ thuật, các hộ tham gia đã biết ghi chép lịch thời vụ, theo dõi sâu bệnh và chủ động trao đổi với cán bộ chuyên môn khi cần hỗ trợ. Qua đó, người dân từng bước tiếp cận phương thức canh tác có quy trình, nâng cao năng lực ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
Việc tiêu thụ ngô sinh khối cho các trang trại chăn nuôi bò cũng tạo thêm hướng liên kết giữa trồng trọt và chăn nuôi, góp phần mở rộng đầu ra sản phẩm.
Kết quả tại Ia Sao phù hợp với định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026–2030, trong đó chú trọng chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và phát triển sản xuất gắn với thị trường. Đây là cơ sở để địa phương tiếp tục đánh giá, nhân rộng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số.