Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao giá trị măng Vót Sơn Tây

<p style="text-align: justify;">Từ cải tạo vùng nguyên liệu đến hoàn thiện quy trình chế biến, ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN) tại Sơn Tây Thượng, Quảng Ngãi đã giúp năng suất măng Vót đạt 12,5 tấn/ha/chu kỳ hai năm, tăng gấp 2,5 lần so với diện tích ngoài mô hình. Kết quả này mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn nguồn lâm sản bản địa, gắn sản xuất với chế biến và phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào Ca Dong.</p>

Tại xã Sơn Tây Thượng, tỉnh Quảng Ngãi, cây măng Vót từ lâu đã là nguồn thực phẩm quen thuộc và mang lại thu nhập cho đồng bào Ca Dong. Tuy nhiên, việc khai thác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa chú trọng chăm sóc, bảo quản; sản phẩm tiêu thụ phần lớn là măng tươi nên giá trị kinh tế còn hạn chế.

Giai đoạn 2021–2025, Quảng Ngãi triển khai dự án ứng dụng KH&CN phát triển măng Vót theo chuỗi giá trị với sự tham gia của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, chính quyền địa phương và các hợp tác xã. 

Dự án tập trung chuyển giao kỹ thuật cải tạo, chăm sóc và khai thác rừng vót hiện có, ứng dụng công nghệ chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, liên kết tiêu thụ, hướng tới nâng cao giá trị kinh tế và tạo sinh kế ổn định cho người dân.

Chuyển giao kỹ thuật, nâng cao năng suất măng Vót

Tại thôn Tang Tong, xã Sơn Liên (nay thuộc xã Sơn Tây Thượng), mô hình cải tạo, thâm canh 10 ha măng Vót được triển khai với sự tham gia của 5 hộ dân. Người dân được hướng dẫn phát dọn thực bì, loại bỏ thân vót sinh trưởng kém, bón phân, chăm sóc bụi vót và thu hoạch theo hướng duy trì khả năng tái sinh. Các biện pháp được thực hiện trên diện tích rừng vót hiện có, thay vì mở rộng diện tích bằng cách khai phá đất.

Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao giá trị măng Vót Sơn Tây- Ảnh 1.

Thu hoạch măng rừng Sơn Tây.

Anh Đinh Văn Nơ, người Ca Dong ở thôn Tang Tong khi tham gia mô hình đã được hướng dẫn các kỹ thuật phát dọn thực bì, chặt bỏ cây sinh trưởng kém, bón phân và phòng ngừa cháy rừng. Qua đó, anh cùng người dân địa phương nâng cao ý thức chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng vót gắn với sinh kế gia đình.

Theo kết quả tổng hợp năm 2025 của Sở KH&CN tỉnh Quảng Ngãi, năng suất bình quân của mô hình đạt 12,5 tấn/ha trong chu kỳ hai năm, gấp 2,5 lần so với diện tích ngoài mô hình. Lợi nhuận bình quân đạt 108,8 triệu đồng/ha/chu kỳ hai năm, cao hơn 2,1 lần so với phương thức truyền thống.

Dự án cũng chú trọng nâng cao năng lực kỹ thuật tại chỗ. Đã có 20 kỹ thuật viên cơ sở được đào tạo và 150 lượt nông dân tham gia tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến măng Vót. Qua đó, người dân có thêm kiến thức, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao khả năng quản lý và khai thác bền vững nguồn lâm sản bản địa.

Đẩy mạnh chế biến, nâng cao giá trị sản phẩm

Không chỉ cải tạo vùng nguyên liệu, KH&CN còn được ứng dụng vào chế biến nhằm gia tăng giá trị sản phẩm măng Vót Sơn Tây. Dự án hoàn thiện 3 quy trình chế biến gồm măng muối chua, măng dầm tỏi ớt và măng sấy khô bao gói chân không. Cùng với quy trình nhân giống, trồng, chăm sóc và thu hoạch, các giải pháp này góp phần hình thành chuỗi sản xuất từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm chế biến.

Ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao giá trị măng Vót Sơn Tây- Ảnh 2.

Măng Vót Sơn Tây sau thu hoạch.

Kỹ thuật sấy khô kết hợp bao gói chân không giúp kéo dài thời gian bảo quản, tạo thuận lợi cho vận chuyển và tiêu thụ. Việc đa dạng hóa sản phẩm cũng từng bước giảm sự phụ thuộc vào thị trường măng tươi theo mùa, mở thêm hướng nâng cao giá trị thương mại của cây măng Vót.

Cùng với đó, mô hình hỗ trợ hình thành tổ hợp tác sản xuất, kết nối người dân với các cơ sở thu mua, chế biến và tiêu thụ. Trong đó, Hợp tác xã Sản xuất nông lâm nghiệp và Thương mại Dịch vụ Sơn Bua tham gia liên kết thu mua, chế biến và đưa sản phẩm măng Vót ra thị trường. Hoạt động xây dựng nhãn hiệu "Măng Vót Sơn Tây - Quảng Ngãi", thiết kế bao bì và ứng dụng mã truy xuất nguồn gốc cũng được triển khai, góp phần nâng cao khả năng nhận diện sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Từ mô hình cải tạo 10 ha đến việc hoàn thiện các quy trình kỹ thuật và phát triển sản phẩm chế biến, kết quả triển khai cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng KH&CN vào khai thác, phát triển lâm sản bản địa. Đây là cơ sở để địa phương tiếp tục nhân rộng mô hình phù hợp, tăng cường liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ, góp phần nâng cao giá trị măng Vót, cải thiện sinh kế cho đồng bào Ca Dong và bảo vệ nguồn lợi rừng theo hướng bền vững.