Ban hành danh mục 79 nền tảng số dùng chung quốc gia

<p style="text-align: justify;"> Ngày 24/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1132/QĐ-TTg về tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, tạo cơ sở thống nhất để triển khai, kết nối, chia sẻ dữ liệu trên phạm vi toàn quốc, đồng thời hạn chế đầu tư dàn trải, trùng lặp trong chuyển đổi số.</p>

Theo Quyết định, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia gồm 79 nền tảng, chia thành 2 nhóm:

- Nhóm A: Gồm 17 nền tảng có phạm vi dùng chung rộng, phục vụ nhiều ngành, lĩnh vực và hỗ trợ kết nối dữ liệu ở cấp quốc gia. 

Nhóm này bao gồm các nền tảng lõi như Cổng Dịch vụ công quốc gia, VNeID, Trục liên thông văn bản quốc gia, Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, Cổng dữ liệu quốc gia, Nền tảng chuỗi khối quốc gia và Trợ lý ảo quốc gia.

- Nhóm B: Gồm 62 nền tảng tập trung vào các nghiệp vụ chuyên ngành, nhưng vẫn được triển khai thống nhất trên phạm vi toàn quốc. 

Các nền tảng thuộc nhóm này phục vụ những lĩnh vực cụ thể như thủ tục hành chính, hải quan, thuế, đấu thầu, đăng ký doanh nghiệp, quản lý cán bộ, lao động, y tế, giáo dục, pháp luật, an toàn thực phẩm và phòng, chống thiên tai.

Ban hành danh mục 79 nền tảng số dùng chung quốc gia- Ảnh 1.

Nền tảng số dùng chung quốc gia được ban hành nhằm thống nhất triển khai, kết nối và chia sẻ dữ liệu trên phạm vi toàn quốc. (Ảnh minh hoạ)

Nền tảng số dùng chung quốc gia phải đáp ứng yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số; được triển khai toàn quốc; cung cấp dịch vụ dùng chung; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu. 

Các nền tảng cũng phải được phát triển theo hướng mở, linh hoạt, công bố công khai tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thể tham gia phát triển, cung cấp dịch vụ.

Quyết định yêu cầu các nền tảng được duy trì, vận hành, nâng cấp, cải tiến thường xuyên. Sau khi nền tảng dùng chung quốc gia được đưa vào vận hành, cơ quan, tổ chức không đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ hoặc mở rộng hệ thống có chức năng, mục tiêu, phạm vi sử dụng tương tự, trừ trường hợp đặc thù về quốc phòng, an ninh, cơ yếu hoặc theo quy định chuyên ngành.

Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, đánh giá hiệu quả khai thác, sử dụng và định kỳ đề xuất điều chỉnh danh mục phù hợp yêu cầu thực tiễn.