Cần Thơ: Từ chuyển giao công nghệ đến tạo sinh kế bền vững
<p style="text-align: justify;">Giai đoạn 2021-2025, Cần Thơ triển khai 130 mô hình phát triển sản xuất, sinh kế cộng đồng, hỗ trợ 5.802 hộ chuyển đổi nghề. Từ chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nghề đến ứng dụng công nghệ số và kết nối thị trường, KH&CN đang giúp người dân nâng cao năng lực sản xuất, giảm chi phí và từng bước chủ động tạo sinh kế bền vững.</p>
130 mô hình sản xuất, hàng nghìn hộ có thêm sinh kế
Giai đoạn 2021-2025, Cần Thơ triển khai 130 mô hình phát triển sản xuất, sinh kế cộng đồng, hỗ trợ 5.802 hộ chuyển đổi nghề. Người dân được tiếp cận giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật sản xuất và phương thức tổ chức sinh kế phù hợp với điều kiện địa phương.
Cách làm này tạo khác biệt ở chỗ nguồn lực hỗ trợ không kết thúc ở việc trao giống hay vốn. Kiến thức và kỹ thuật được đưa vào cùng mô hình, giúp người dân biết cách sản xuất, chăm sóc, phòng trừ rủi ro và duy trì sinh kế sau khi chương trình kết thúc.

Cần Thơ coi trọng tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đẩy mạnh hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức sản xuất và chuyển giao ứng dụng công nghệ.
Tại xã Cờ Đỏ, một mô hình dạy nghề trồng lúa năng suất cao và đan lục bình cho 180 học viên Khmer, kết hợp đào tạo nghề với dạy chữ Khmer, cho thấy hiệu quả của việc đưa kiến thức sản xuất đến gần cộng đồng, phù hợp với điều kiện và văn hóa địa phương.
Cách làm này giúp chuyển trọng tâm từ "hỗ trợ để sản xuất" sang "hỗ trợ để người dân có năng lực tự sản xuất" - yếu tố quyết định khả năng duy trì sinh kế về lâu dài.
Tại xã Trường Khánh, các Tổ công nghệ số cộng đồng lập nhóm Zalo để cập nhật thông tin về thời tiết, nguồn nước, xâm nhập mặn và sản xuất. Một hộ Khmer trồng lúa đã sử dụng những thông tin này để chủ động điều chỉnh sản xuất, qua đó giảm khoảng 20% chi phí so với vụ trước.
Con số này cho thấy chuyển đổi số ở cơ sở không chỉ phục vụ thủ tục hành chính. Khi thông tin về sản xuất được đưa đến đúng người, đúng thời điểm, công nghệ có thể trở thành một công cụ trực tiếp giúp nông dân giảm chi phí và hạn chế rủi ro.
Mô hình được mở rộng tại khu vực Sóc Trăng trước đây, nay thuộc TP Cần Thơ. Sau hai năm, địa bàn đã hình thành 775 Tổ công nghệ số cộng đồng với 5.045 thành viên.
Riêng xã Trường Khánh có 7 tổ với 49 thành viên, xây dựng 55 nhóm Zalo, thu hút 836 thành viên, hỗ trợ người dân tiếp cận các dịch vụ số.
Tổ công nghệ số cộng đồng là tuyên truyền viên tích cực, hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng công nghệ số.
Công nghệ nối sản xuất với thị trường
Từ sản xuất đến tiêu thụ, công nghệ cũng đang tạo thêm những mắt xích mới. Cần Thơ thúc đẩy đưa sản phẩm OCOP, nông sản địa phương lên sàn thương mại điện tử; hỗ trợ hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ sử dụng công cụ số, hóa đơn điện tử, thanh toán không tiền mặt và các nền tảng quản lý.
Khi sản phẩm địa phương có thể được quảng bá và tiếp cận khách hàng trên môi trường số, giá trị của KH&CN không còn nằm ở việc làm ra sản phẩm, mà mở rộng sang giúp sản phẩm tìm được thị trường. Đây là cơ sở để các mô hình sinh kế từng bước chuyển từ quy mô hộ sang liên kết sản xuất, xây dựng thương hiệu và tham gia chuỗi giá trị.
Trên phạm vi cả nước, chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN cho nông thôn, miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã chuyển giao 2.560 công nghệ, xây dựng và nhân rộng khoảng 1.695 mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đào tạo gần 5.000 cán bộ kỹ thuật và tập huấn khoảng 106.200 lượt người dân.
Nhưng giá trị của chuyển giao công nghệ không nằm ở số lượng công nghệ được đưa xuống cơ sở. Thước đo quan trọng hơn là người dân có tiếp nhận, vận hành và duy trì được hay không; mô hình có tạo thu nhập và đứng vững sau hỗ trợ hay không.
Với TP. Cần Thơ sau hợp nhất, không gian phát triển rộng hơn cũng mở ra dư địa kết nối các vùng sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học và thị trường. Trong đó, công nghệ sau thu hoạch, chế biến nông sản, sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu, số hóa chuỗi giá trị và thương mại điện tử có thể trở thành những hướng tiếp tục được khai thác. Điều quan trọng là lựa chọn những công nghệ phù hợp điều kiện sản xuất, dễ áp dụng, có khả năng tạo thu nhập và gắn với đầu ra, thay vì triển khai theo số lượng.
Giai đoạn tới, vì vậy, hiệu quả của KH&CN tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần được nhìn từ những thay đổi rất cụ thể: một hộ giảm được chi phí sản xuất; một lớp học nghề giúp người dân có thêm việc làm; một sản phẩm có thêm thị trường; một quy trình kỹ thuật được duy trì sau khi dự án kết thúc.
Đó cũng là lúc Chương trình 1719 chuyển từ hỗ trợ sinh kế sang tạo năng lực sinh kế để người dân không chỉ có thêm nguồn lực thoát nghèo, mà còn có tri thức, kỹ năng và công cụ để tự tạo giá trị, mở rộng sản xuất và chủ động hơn trên thị trường.