Ứng dụng tiến bộ KH&CN, mở hướng sinh kế bền vững từ chăn nuôi gà Mía tại Hà Nội

<p style="text-align: justify;">Từ những quy trình chăn nuôi được chuyển giao đến mô hình sản xuất gắn với tiêu thụ, dự án ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) trong chăn nuôi gà Mía tại vùng nông thôn, miền núi của Hà Nội đang cho thấy vai trò của KH&CN trong nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo sinh kế và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.</p>

Từ thay đổi kỹ thuật đến hiệu quả sản xuất

Gà Mía là giống gà đặc sản gắn với vùng Sơn Tây - Ba Vì của Hà Nội. Tuy nhiên, để giống gà này trở thành sản phẩm hàng hóa có giá trị, việc duy trì giống, nâng cao chất lượng con giống, kiểm soát dịch bệnh và tổ chức sản xuất theo quy trình thống nhất là yêu cầu quan trọng.

Đó cũng là mục tiêu của dự án "Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong chăn nuôi gà Mía bền vững tại vùng nông thôn, miền núi của Hà Nội" do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) giao Xí nghiệp Chăn gia cầm, Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển nông nghiệp Hà Nội chủ trì thực hiện, Viện Chăn nuôi là đơn vị chuyển giao công nghệ.

Ứng dụng tiến bộ KH&CN, mở hướng sinh kế bền vững từ chăn nuôi gà Mía tại Hà Nội - Ảnh 1.

Người dân huyện Ba Vì, Hà Nội tham gia mô hình nuôi gà Mía sinh sản với quy mô 2.000 con. (Ảnh: Báo Hànộimới).

Dự án được triển khai từ tháng 12/2021 đến tháng 5/2024, tập trung tiếp nhận, làm chủ và chuyển giao các quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà Mía theo hướng an toàn sinh học, phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân khu vực nông thôn, miền núi Hà Nội.

Trước khi tham gia mô hình, việc nuôi gà Mía sinh sản ở một số hộ còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm. Thời gian nuôi kéo dài, công tác chăm sóc, chọn lọc và phòng bệnh chưa được thực hiện đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và chất lượng đàn.

Khi tham gia dự án, người dân được hướng dẫn từ khâu chọn lọc con giống, chăm sóc, nuôi dưỡng theo từng giai đoạn đến thực hiện lịch phòng bệnh. Các quy trình kỹ thuật được chuyển giao gắn với thực hành ngay tại mô hình, giúp người chăn nuôi từng bước thay đổi phương thức sản xuất.

Một hộ dân tham gia mô hình gà Mía sinh sản tại huyện Ba Vì cho biết, trước đây việc chăm sóc đàn gà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Sau khi được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, đàn gà được chọn lọc qua từng giai đoạn, sử dụng thức ăn phù hợp với độ tuổi và phòng bệnh theo đúng lịch. Nhờ đó, khi bước vào giai đoạn sinh sản, đàn gà đồng đều hơn, sức khỏe tốt, tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng được cải thiện.

Đây là thay đổi không chỉ nằm ở một khâu kỹ thuật. Quan trọng hơn, người chăn nuôi bắt đầu hình thành thói quen sản xuất theo quy trình, kiểm soát đầu vào và chủ động phòng ngừa rủi ro thay vì xử lý khi dịch bệnh xảy ra.

Trong thời gian thực hiện, dự án đã xây dựng 10 mô hình, gồm 3 mô hình chăn nuôi gà Mía sinh sản tại huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây với tổng đàn 6.000 con; 5 mô hình chăn nuôi gà Mía thương phẩm với tổng đàn 10.000 con, có 7 hộ dân tham gia; 2 mô hình liên kết thu gom, giết mổ. Cùng với đó là các hoạt động đào tạo kỹ thuật, tập huấn, tuyên truyền, chuyển giao và mở rộng mô hình.

Đáng chú ý, với mô hình nuôi 2.000 con gà Mía thương phẩm, sau khoảng 5 tháng, tỷ lệ sống đạt trên 92%. Gà trống đạt trọng lượng bình quân 2,19 kg/con, gà mái 1,76 kg/con. Sản phẩm đến tuổi xuất bán được đơn vị liên kết bao tiêu với giá tương đối ổn định.

Những con số này cho thấy hiệu quả của việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào một mô hình chăn nuôi vốn quen thuộc với người dân địa phương. Khi quy trình được chuẩn hóa, năng suất và chất lượng đàn được kiểm soát tốt hơn, qua đó giảm rủi ro trong sản xuất.

Một trong những điểm đáng chú ý của dự án là KH&CN không chỉ được đưa vào khâu chăn nuôi mà còn được kết nối với các công đoạn sau sản xuất. Gà thương phẩm từ các mô hình được hai hợp tác xã tham gia liên kết thu mua, sơ chế, chế biến. Sản phẩm được giết mổ, đóng gói bảo đảm yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm và gắn tem truy xuất nguồn gốc.

Dự án cũng đã tiếp nhận và chuyển giao 5 quy trình kỹ thuật, gồm: chăm sóc, nuôi dưỡng gà Mía sinh sản; chăm sóc, nuôi dưỡng gà Mía thương phẩm; thú y phòng bệnh cho gà Mía sinh sản; thú y phòng bệnh cho gà Mía thương phẩm; chuồng trại an toàn sinh học vận dụng theo QCVN 01-15:2010/BNNPTNT.

Cùng với chuyển giao công nghệ, dự án đào tạo 10 kỹ thuật viên và tổ chức 200 lượt tập huấn cho người dân. Kết quả mô hình thu nhận 288.300 trứng từ đàn gà bố mẹ và hơn 9.300 con gà thương phẩm được đưa vào chuỗi liên kết chế biến, tiêu thụ.

Điểm quan trọng ở đây là công nghệ không nằm lại trong phòng thí nghiệm hay trên tài liệu hướng dẫn. Công nghệ được đưa xuống hộ chăn nuôi, được người dân thực hành, điều chỉnh trong điều kiện thực tế và hình thành quy trình sản xuất có thể tiếp tục duy trì sau khi dự án kết thúc.

KH&CN làm đòn bẩy cho sinh kế

Thực tế từ mô hình gà Mía cho thấy, với khu vực nông thôn, miền núi, một tiến bộ kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi giải quyết được những vấn đề cụ thể của sản xuất và tạo ra lợi ích trực tiếp cho người dân.

Đây cũng là hướng tiếp cận xuyên suốt của Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1747/QĐ-TTg. Chương trình chú trọng đưa các công nghệ phù hợp vào sản xuất, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và người dân, hình thành chuỗi giá trị sản phẩm và phát huy lợi thế của từng địa phương.

Trong giai đoạn 2016-2025, Hà Nội được Bộ KH&CN phê duyệt thực hiện 9 dự án thuộc Chương trình Nông thôn miền núi do Trung ương quản lý. Các dự án tập trung vào những lĩnh vực gắn với lợi thế sản xuất của khu vực ngoại thành, qua đó đưa nhiều tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống.

Với các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc phát triển sản xuất hàng hóa, tạo việc làm và nâng thu nhập càng có ý nghĩa đối với mục tiêu giảm nghèo bền vững. Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 cũng đặt trọng tâm vào phát triển sản xuất, phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị.

Đặt trong định hướng đó, mô hình gà Mía tại Ba Vì, Sơn Tây cho thấy một cách tiếp cận phù hợp: Lấy KH&CN làm nền tảng để nâng chất lượng sản xuất, lấy người dân làm chủ thể tiếp nhận công nghệ và lấy liên kết thị trường làm điều kiện để duy trì hiệu quả.

Với gà Mía, việc hình thành đàn sinh sản, phát triển đàn thương phẩm, tổ chức thu gom, giết mổ, đóng gói và truy xuất nguồn gốc đã tạo nên những mắt xích ban đầu của một chuỗi sản phẩm. Đây là cơ sở để các hộ chăn nuôi tiếp tục duy trì mô hình và mở rộng quy mô khi có thị trường.

Ứng dụng tiến bộ KH&CN, mở hướng sinh kế bền vững từ chăn nuôi gà Mía tại Hà Nội - Ảnh 2.

Gà mía thả vườn.

Dự án đồng thời góp phần tạo việc làm thường xuyên và thời vụ cho lao động địa phương, nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực tại chỗ và thúc đẩy các cơ sở, doanh nghiệp nông nghiệp tham gia sâu hơn vào sản xuất.

Ở góc độ rộng hơn, việc thay thế dần tập quán chăn nuôi thiếu kiểm soát bằng quy trình kỹ thuật, tăng cường quản lý con giống, thức ăn, dịch bệnh và điều kiện chuồng trại cũng góp phần giảm rủi ro, sử dụng hiệu quả nguồn lực và hạn chế những tác động không mong muốn đến môi trường.

Thời gian tới, đơn vị chủ trì dự kiến tiếp tục phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, cơ sở chăn nuôi và người dân để hoàn thiện quy trình công nghệ, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện từng khu vực, đồng thời mở rộng liên kết sản xuất và tiêu thụ.

Từ một giống gà đặc sản của vùng Sơn Tây - Ba Vì, câu chuyện của dự án cho thấy một hướng đi rõ hơn cho KH&CN ở khu vực nông thôn, miền núi. Đó là không chỉ đưa công nghệ đến với người dân mà phải giúp công nghệ tạo ra sản phẩm, tạo ra thị trường và cuối cùng là tạo ra sinh kế.

Khi tiến bộ KH&CN được gắn với lợi thế địa phương, nhu cầu của người dân và thị trường, một mô hình sản xuất có thể trở thành điểm khởi đầu cho một chuỗi giá trị mới. Đó cũng là cách KH&CN phát huy vai trò đòn bẩy, góp phần nâng cao thu nhập và tạo nền tảng cho giảm nghèo bền vững ở khu vực nông thôn, miền núi.