Vốn đi cùng kỹ thuật, sinh kế có thêm lực đẩy
Với gia đình ông Thạch Thia ở ấp Kỳ Son, xã Ngãi Tứ, khoản vay 70 triệu đồng để phát triển bò sinh sản trở thành điểm khởi đầu cho cách làm mới. Cùng với vốn, gia đình ông được hướng dẫn làm chuồng, chăm sóc, phòng bệnh, phối giống và nhân đàn. Từ chăn nuôi nhỏ lẻ, đàn bò có thời điểm tăng lên 12 con, mang lại thu nhập gần 100 triệu đồng mỗi năm.
Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở số lượng đàn bò hay thu nhập tăng thêm, mà ở việc người dân được tiếp cận một quy trình sản xuất có kỹ thuật, biết tính toán chi phí, chủ động phòng bệnh và tái đầu tư. Nguồn vốn vì thế được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, thay vì chỉ là khoản hỗ trợ ngắn hạn.
Nhờ nguồn vốn hỗ trợ, cùng kỹ thuật chăn nuôi được chuyển giao, ông Thạch Thia ở ấp Kỳ Son, xã Ngãi Tứ phát triển đàn bò sinh sản lên 12 con, tạo nguồn thu gần 100 triệu đồng mỗi năm.
Tại xã Tân Hòa, ông Nguyễn Văn Quốc cũng sử dụng 40 triệu đồng vốn vay để mua 5 con dê và đầu tư chuồng trại. Gia đình tận dụng cỏ, chuối cây, lá so đũa, lá mít làm thức ăn nhằm giảm chi phí. Sau khoảng 15 tháng, đàn dê sinh sản, gia đình xuất bán hơn 20 con dê con, thu khoảng 60 triệu đồng và tiếp tục duy trì đàn.
Những mô hình này cho thấy hiệu quả của cách tiếp cận vốn đi cùng kỹ thuật, vật tư và tổ chức sản xuất. Người dân không chỉ có nguồn lực để bắt đầu mà còn được hướng dẫn cách sử dụng, chăm sóc và duy trì sinh kế.
Năm 2025, Vĩnh Long triển khai 9/10 dự án và 10/14 tiểu dự án thuộc Chương trình 1719, với tổng kinh phí gần 284,2 tỷ đồng. Trong đó, 545 hộ được hỗ trợ sinh kế, cùng các chính sách về giao thông, nước sinh hoạt và nhà ở.
Nếu hạ tầng mở thêm không gian lưu thông hàng hóa, nước sạch và nhà ở giúp ổn định cuộc sống, thì hỗ trợ sinh kế tác động trực tiếp đến thu nhập. Tuy nhiên, để sinh kế đứng vững sau khi nguồn hỗ trợ kết thúc, yếu tố quyết định vẫn là kiến thức, kỹ thuật và khả năng tổ chức sản xuất.
Tại Tân Hòa, 30 tổ hợp tác với 426 thành viên đang duy trì các mô hình bưởi da xanh, bòn bon xen dừa, dừa xiêm xanh hữu cơ và chăn nuôi lợn thịt. Gần 2.500 lượt thành viên được hỗ trợ mua gần 80 tấn phân bón theo hình thức trả chậm, không tính lãi; 2.135 người được hỗ trợ kỹ thuật sản xuất.
Từ những tổ hợp tác này, kỹ thuật không còn chỉ được chuyển đến từng hộ mà có thể được chia sẻ, áp dụng đồng bộ, tạo nền tảng cho liên kết sản xuất. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội địa phương: không chỉ cải thiện điều kiện sống, mà nâng năng lực sản xuất, hình thành các tổ chức kinh tế ở nông thôn và tạo nền tảng để người dân tham gia sâu hơn vào thị trường.
Đưa công nghệ vào từng khâu để tăng giá trị
Chương trình 1719 không chỉ tạo nguồn lực cho người dân phát triển sản xuất mà còn mở ra yêu cầu cao hơn: làm thế nào để những mô hình nhỏ có thể tham gia chuỗi giá trị lớn hơn. Đây là nơi khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành phần nối dài của chính sách sinh kế.
Trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, Vĩnh Long xác định KH&CN là động lực chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, lấy chất lượng và giá trị làm trọng tâm. Địa phương đặt mục tiêu nâng tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao lên khoảng 20%, đồng thời thúc đẩy công nghệ sinh học trong sản xuất giống, nhà lưới, nhà kính, nhà màng, rau thủy canh, tưới tiết kiệm và các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu.
Hiệu quả của quá trình này đang thể hiện rõ hơn qua các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa. Năm 2025, Vĩnh Long công nhận thêm 149 sản phẩm OCOP, nâng tổng số sản phẩm OCOP của tỉnh sau sáp nhập lên 1.137 sản phẩm của 633 chủ thể.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, tỉnh công nhận thêm 16 sản phẩm OCOP, gồm 13 sản phẩm 3 sao và 3 sản phẩm 4 sao; đồng thời có thêm 2 sản phẩm đạt OCOP 5 sao, nâng tổng số sản phẩm 5 sao lên 15. Lũy kế đến tháng 9/2026, toàn tỉnh có 980 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, thuộc 476 chủ thể.
Vĩnh Long xác định KH&CN là động lực chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, nhờ đó nhiều hộ dân thoát nghèo, phát triển kinh tế bền vững.
Cùng với nâng chất lượng sản phẩm, xúc tiến thương mại và chuyển đổi số đang được đưa vào các khâu sau sản xuất. Hơn 500 sản phẩm OCOP được đưa lên sàn giao dịch của ngành Công Thương; các hoạt động hội chợ, quảng bá và kết nối cung - cầu tiếp tục mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường.
Vĩnh Long cũng định hướng số hóa dữ liệu, xây dựng hệ thống quản lý, giám sát trực tuyến, phát triển bản đồ số nông nghiệp, truy xuất nguồn gốc sản phẩm OCOP và đào tạo kỹ năng số thông qua các tổ công nghệ số cộng đồng.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, Vĩnh Long đang đặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước một yêu cầu cao hơn: phát triển năng lực tự vươn lên bằng sản xuất hàng hóa, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Nghị quyết 11-NQ/TU ngày 13/5/2026 của Tỉnh ủy xác định tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trong khi các mục tiêu mới đặt yêu cầu trên 81% hộ nông dân người dân tộc thiểu số làm kinh tế nông nghiệp hàng hóa, ít nhất 48% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề.
Khi nguồn lực hỗ trợ được kết nối với tri thức, kỹ thuật và công nghệ, sinh kế không chỉ được tạo ra mà còn có cơ hội phát triển bền vững. Từ những mô hình chăn nuôi, trồng trọt cụ thể, khoa học và công nghệ đang từng bước chuyển hóa nguồn lực của Chương trình 1719 thành năng lực sản xuất, giúp người dân tỉnh Vĩnh Long nâng cao năng suất, gia tăng giá trị và chủ động hơn trên hành trình vươn lên thoát nghèo.