Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đang chủ động tái định hình chiến lược tài trợ các chương trình hợp tác quốc tế theo hướng có trọng tâm, chuyển từ tài trợ đơn lẻ sang tài trợ theo chương trình gắn với các bài toán lớn của quốc gia; tăng cường cơ chế đồng tài trợ thực chất để huy động nguồn lực quốc tế; đồng thời ưu tiên các công nghệ nền tảng và công nghệ lõi có khả năng tạo đột phá, nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu của các chương trình hợp tác quốc tế và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia.
Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo "Định hướng ưu tiên tài trợ các chương trình hợp tác quốc tế do Quỹ tài trợ trong bối cảnh mới" do NAFOSTED tổ chức vào ngày 03/4/2026, tại Hà Nội, với sự tham gia của cơ quan quản lý, nhà khoa học và chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ trọng điểm.
Định vị "cầu nối chiến lược", thúc đẩy hệ sinh thái hợp tác quốc tế sâu rộng
Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc NAFOSTED nhấn mạnh, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST) đang trở thành động lực trung tâm của phát triển toàn cầu, hợp tác quốc tế đã chuyển từ vai trò hỗ trợ sang trụ cột chiến lược, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nghiên cứu, kết nối tri thức toàn cầu và rút ngắn khoảng cách công nghệ.
Tuy vậy, theo TS. Nguyễn Phú Bình, hiệu quả hợp tác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, mức độ đồng tài trợ còn hạn chế, các chương trình còn phân tán, thiếu định hướng ưu tiên rõ ràng. Do đó, NAFOSTED xác định yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ trong giai đoạn tới: Chuyển từ tài trợ đơn lẻ sang tài trợ theo chương trình gắn với các bài toán lớn của quốc gia; tăng cường cơ chế đồng tài trợ thực chất để huy động nguồn lực quốc tế; đồng thời lựa chọn có trọng tâm các lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là các công nghệ nền tảng và công nghệ lõi có khả năng tạo đột phá.

TS. Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc NAFOSTED phát biểu khai mạc Hội thảo.
Chia sẻ định hướng ưu tiên tài trợ hợp tác quốc tế của Quỹ, TS. Nguyễn Phú Bình cho biết, trong giai đoạn 2025 - 2030, NAFOSTED định vị rõ vai trò là "cầu nối chiến lược" đưa khoa học Việt Nam hội nhập sâu với thế giới.
Với triết lý tài trợ theo chuẩn mực quốc tế, mở rộng kết nối toàn cầu và huy động đa dạng nguồn lực, Quỹ đang kiến tạo một hệ sinh thái hợp tác quốc tế ngày càng thực chất, hiệu quả và có chiều sâu.
Đến nay, NAFOSTED đã thiết lập quan hệ với hơn 20 quốc gia, triển khai khoảng 200 nhiệm vụ hợp tác quốc tế và xây dựng mạng lưới khoảng 25 đối tác chiến lược. Không gian hợp tác được mở rộng theo nhiều tầng nấc: Từ các chương trình nghị định thư cấp Chính phủ, đến hợp tác song phương - đa phương giữa các quỹ, và các dự án chuyển giao công nghệ gắn với ứng dụng, thương mại hóa.
Song song với đó, hệ thống chính sách ưu đãi dành cho nhà khoa học ngày càng hoàn thiện: Hỗ trợ nghiên cứu và thực tập ngắn hạn ở nước ngoài; tài trợ mời chuyên gia quốc tế; kết nối hội thảo học thuật toàn cầu; và đặc biệt là hỗ trợ công bố trên các tạp chí khoa học uy tín thế giới.
Các cơ chế tài trợ cũng được cải cách mạnh mẽ theo hướng chuẩn quốc tế: Chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, mở rộng khoán chi, nâng cấp quản lý từ đề tài đơn lẻ sang chuỗi nhiệm vụ, số hóa toàn bộ quy trình và minh bạch hóa sở hữu trí tuệ; nhằm đảm bảo chất lượng hợp tác, từ định hướng quốc gia, cam kết đối tác đến năng lực thực thi và hiệu quả đầu ra. Đặc biệt, các lĩnh vực ưu tiên tập trung vào công nghệ cao và công nghệ chiến lược theo định hướng của Chính phủ, nhằm tạo ra những đột phá mang tính dẫn dắt.
NAFOSTED khuyến nghị cộng đồng khoa học cần chủ động tìm kiếm đối tác, xây dựng đề xuất song phương từ sớm; tăng cường gắn kết với doanh nghiệp để nâng cao tính ứng dụng; tận dụng tối đa cơ chế khoán chi; chuyên nghiệp hóa quản trị nhóm nghiên cứu; số hóa 100% thích ứng ngay với quy trình quản lý trên nền tảng số.

TS. Isabelle Verbaeys, Trưởng Khối Hợp tác quốc tế, Quỹ Nghiên cứu vùng Flanders, Bỉ (FWO) giới thiệu, kêu gọi đề xuất các dự án nghiên cứu chung giữa Việt Nam và FWO tại Hội thảo.
Hướng tới nghiên cứu trọng tâm, ưu tiên công nghệ lõi và phát triển sản phẩm "Make in Viet Nam"
Phát biểu tại Hội thảo, đại diện Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ KH&CN cho biết, trong giai đoạn 2021-2025, hợp tác KH&CN theo Nghị định thư được duy trì ổn định, đúng tiến độ với 65 nhiệm vụ triển khai, chủ yếu tập trung vào các đối tác truyền thống như Italy, Hàn Quốc, Đức. Tuy nhiên, hạn chế lớn là thiếu định hướng chiến lược dài hạn, chưa chuyển sang chiều sâu và thiếu sự tham gia của doanh nghiệp.
Để nâng cao hiệu quả triển khai nhiệm vụ nghị định thư, đại diện Vụ Hợp tác quốc tế cho rằng, cần tập trung vào 4 giải pháp trọng tâm, gồm:
Xác định danh mục đối tác chiến lược ưu tiên.
Điều chỉnh cơ cấu nhiệm vụ theo công nghệ lõi: Ưu tiên Al, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học tiên tiến, vật liệu mới và năng lượng sạch.
Chuyển từ đề tài đơn lẻ sang chương trình dài hạn.
Hoàn thiện cơ chế lựa chọn và đánh giá. Đến năm 2030, định hình chuyển đổi từ nghiên cứu dàn trải sang trọng tâm, từ ứng dụng ngắn hạn sang công nghệ chiến lược.

ThS. Trần Thị Thúy, Chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế phát biểu tại Hội thảo.
Ở góc độ lĩnh vực công nghiệp công nghệ số, TS. Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin nhấn mạnh, định hướng giai đoạn 2025 - 2030 được xác lập theo logic xuyên suốt từ nghiên cứu nền tảng đến làm chủ công nghệ lõi và phát triển sản phẩm "Make in VietNam". Theo đó, Quỹ cần chuyển từ cách tiếp cận tài trợ theo đề tài rời rạc sang tài trợ theo chuỗi phát triển công nghệ, kết nối chặt chẽ các khâu từ thuật toán, dữ liệu, mô hình đến module lõi và nguyên mẫu ứng dụng.
Bốn nhóm nhiệm vụ được ưu tiên tài trợ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2025 - 2030 gồm:
Nghiên cứu chung tạo tri thức nền trong các lĩnh vực chiến lược như AI, bán dẫn, dữ liệu.
Các dự án ứng dụng có lộ trình rõ ràng.
Các cụm nhiệm vụ liên kết theo chuỗi.
Các hoạt động hỗ trợ, như testbed, benchmark, chia sẻ dữ liệu và hạ tầng.
Việc lựa chọn nhiệm vụ dựa trên 5 tiêu chí cốt lõi, với đầu ra được đánh giá đồng thời ở 3 tầng: Khoa học, Công nghệ và Năng lực.
Mô hình hợp tác hiệu quả được xác định là liên kết viện/trường - đối tác quốc tế - doanh nghiệp, triển khai theo hướng đa năm, có đồng tài trợ và doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu. Hiện còn tồn tại các điểm nghẽn, như: Thiếu lộ trình công nghệ rõ ràng, doanh nghiệp tham gia hạn chế và khoảng trống trong khâu thử nghiệm, kiểm chứng. Giải pháp là đổi mới công cụ tài trợ theo chuỗi, thiết kế hai nấc, thúc đẩy mô hình "3 nhà" và chuyển sang tài trợ theo kết quả.

TS. Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin phát biểu tại Hội thảo.
Từ kinh nghiệm hợp tác với Nhật Bản, Thụy Điển, Belarus, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Anh, Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cho rằng, hợp tác hiệu quả phải gắn với mục tiêu khoa học cụ thể, lựa chọn đúng đối tác là các nhóm nghiên cứu mạnh, đồng thời đa dạng hóa hình thức hợp tác và tận dụng tối đa nguồn lực quốc tế. Việc chuẩn bị hồ sơ, triển khai và quản lý cần tuân thủ chuẩn mực quốc tế, bảo đảm tính thực chất và cam kết khoa học.
Trong giai đoạn tới, định hướng trọng tâm là chuyển sang hợp tác chiều sâu: Ưu tiên đối tác hàng đầu, lĩnh vực mũi nhọn, thúc đẩy liên ngành và mở rộng các chương trình tài trợ đa phương; đồng thời, đổi mới tiêu chí đánh giá theo chuẩn quốc tế, chú trọng chất lượng, tác động và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu.

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Anh, Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.
Từ góc độ thực tiễn hợp tác với Vương quốc Anh, PGS. TS. Nguyễn Tiến Anh, Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn cho rằng, Quỹ cần mở rộng thêm nhiều Chương trình hợp tác với các đối tác trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền KH&CN phát triển; tăng số lượng tài trợ (rating >20%); thiết kế chương trình theo giai đoạn ưu tiên và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, kết nối thông tin tới cộng đồng khoa học.
Đối với cơ quan quản lý, cần khôi phục và phát triển các chương trình trao đổi nghiên cứu ngắn hạn, tạo điều kiện cho các nhà khoa học giàu kinh nghiệm, tiến sĩ trẻ và nghiên cứu sinh tham gia, qua đó thúc đẩy hình thành ý tưởng và nâng cao chất lượng đề xuất hợp tác quốc tế.

PGS. TS. Nguyễn Tiến Anh, Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn phát biểu tại Hội thảo.
Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận các rào cản, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong nghiên cứu KH&CN. Các ý kiến thống nhất cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên tri thức và công nghệ, việc lựa chọn đúng đối tác, đúng lĩnh vực và đúng mô hình tài trợ sẽ là yếu tố quyết định để tạo ra đột phá về năng lực KH&CN quốc gia.

PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc NAFOSTED điều hành phần thảo luận.


Các đại biểu trao đổi tại Hội thảo.

Hội thảo thu hút sự tham gia đông đảo của các cơ quan quản lý, nhà khoa học và chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ trọng điểm.

