Hội tụ nguồn lực cho đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Ngày 08/02/2026, tại Hội nghị thường niên 4V1M năm 2026 với chủ đề “Hợp tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Kết nối nguồn lực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, các ý kiến thảo luận đều thống nhất cho rằng: Muốn tạo đột phá cần trao quyền đủ mạnh, vận hành theo kết quả đầu ra và hướng tới tác động cuối cùng.
Hội nghị nhằm mục tiêu trao đổi, thảo luận về những vấn đề cốt lõi, trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS); trao đổi về các cơ chế, chính sách thử nghiệm, đặc thù, vượt trội trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nhiều vấn đề khác liên quan đến thể chế thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST và CĐS.
Kết nối viện - trường theo chuỗi giá trị
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ KH&CN Vũ Hải Quân nhấn mạnh yêu cầu đặt KHCN, ĐMST và CĐS vào vị trí trung tâm như một lựa chọn mang tính tất yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới. Trên tinh thần "thể chế kiến tạo", Thứ trưởng cho biết, năm 2026 tập trung hoàn thiện khung pháp lý theo hướng dễ thực thi; tái cấu trúc các chương trình KH&CN để giảm phân tán; xây dựng hệ thống thông tin quản lý nhiệm vụ thống nhất, công khai và minh bạch; thúc đẩy chuyển đổi số cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa như một đòn bẩy giá trị; phát triển hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm tầm quốc gia; đồng thời thúc đẩy các chương trình nhân lực chất lượng cao, trong đó có các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu sinh theo chu kỳ và theo nhiệm vụ nghiên cứu.
Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ KH&CN Vũ Hải Quân phát biểu tại Hội nghị.
Ở góc độ triển khai trong hệ thống đại học, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Hoàng Minh Sơn đề xuất cách tiếp cận theo "gói" hỗ trợ đủ lớn và đủ dài hạn, khoảng 5 đến 10 năm, đi kèm quyền tự chủ thực chất để người giỏi "về là làm được việc ngay". Theo ông Hoàng Minh Sơn, trọng tâm của thu hút nhân tài không chỉ là tăng số công bố, mà là có "người kiến tạo" để xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển hướng nghiên cứu, kết nối viện - trường - doanh nghiệp và tạo ra các dự án, sản phẩm có tác động. Khi cơ chế ổn định, các nhóm nghiên cứu có thể tập trung đầu tư theo chiều sâu.
Với tinh thần "trao quyền để làm ra kết quả", Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Thanh Mai bổ sung từ thực tiễn vận hành: Để nguồn lực chuyển hóa thành năng lực thật, cần những cơ chế thiết kế đúng ngay từ đầu và đo được hiệu quả đến cùng. Theo đó, bà Nguyễn Thị Thanh Mai nêu ba gợi ý. Thứ nhất, mô hình phòng thí nghiệm dùng chung cần cơ chế tư vấn đúng chuyên gia, không chỉ tư vấn theo kiểu xây dựng - đầu tư, mà phải có đội ngũ hiểu sâu về lựa chọn thiết bị theo định hướng nghiên cứu và vận hành, để đầu tư "trúng" và khai thác "ra giá trị". Thứ hai, hỗ trợ nghiên cứu sinh theo các "block/gói" theo ngành, với chuẩn đầu ra và KPI rõ ràng, đồng thời khuyến khích đồng hướng dẫn quốc tế để nâng chuẩn cho cả thầy và trò. Thứ ba, phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp theo cơ chế khoán chi gắn với KPI, tạo điều kiện cho hoạt động nhanh, linh hoạt và đo lường được tác động tới hệ sinh thái KHCN, ĐMST và CĐS.
Về phía khối viện nghiên cứu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Thường trực Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam Trần Hồng Thái nhấn mạnh yêu cầu tổ chức hạ tầng nghiên cứu theo hướng "dùng chung" và gắn chặt với kết quả. Theo ông Trần Hồng Thái, đầu tư và vận hành cần đi cùng mục tiêu đầu ra rõ ràng; các chương trình đào tạo tiến sĩ và phát triển nhóm nghiên cứu nên gắn với nhiệm vụ, hạ tầng và nguồn lực đủ mạnh để tạo năng lực nội sinh; đồng thời thúc đẩy mô hình tổ chức đủ sức đưa công nghệ đi hết chặng đường thành sản phẩm. Cách tiếp cận là chọn đúng bài toán, đúng đối tác, tiếp thu công nghệ phù hợp để làm chủ và phát triển tiếp theo nhu cầu Việt Nam.
Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Lê Văn Lợi nhấn mạnh vấn đề "chi tiêu thông minh, chi tiêu hiệu quả" cần được cụ thể hóa bằng 3 vấn đề then chốt: chọn đúng việc, chọn đúng người và nhìn thấy đầu ra có khả năng ứng dụng, trong đó với khoa học xã hội, "đầu ra" có thể là sản phẩm chính sách và tác động quản trị, được định nghĩa rõ ràng để xã hội nhận diện giá trị.




Đại diện khối 4V phát biểu đóng ý kiến và tham luận tại Hội nghị.
4 đơn vị "chủ lực quốc gia" về KHCN, ĐMST và CĐS
Trên cơ sở các tham luận và ý kiến trao đổi tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, 4 đơn vị gồm Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phải trở thành chủ lực KH&CN quốc gia theo đúng nghĩa: chủ động, có nguồn lực đủ mạnh và có cơ chế đủ linh hoạt để triển khai nhiệm vụ theo mục tiêu.
Cùng với nguồn lực, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu định hướng hình thành 4 quỹ KH&CN tại 4 đơn vị. Bộ thực hiện đánh giá hiệu quả tổng thể theo kết quả, coi mỗi đơn vị như một "hộ tiêu dùng" KHCN, ĐMST và CĐS. Bốn đơn vị đồng thời vẫn có thể tiếp tục tham gia và huy động thêm nguồn lực từ các quỹ khác, từ Bộ/ngành/địa phương và hợp tác quốc tế.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu tại Hội nghị.
Một thông điệp xuyên suốt được nhấn mạnh là KHCN, ĐMST và CĐS phải được tổ chức theo một chuỗi đầy đủ gồm: Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tạo sản phẩm, triển khai sản xuất và đưa ra thị trường. Theo đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ và đồng hành xuyên suốt toàn bộ chuỗi, thay vì chỉ dừng lại ở các kết quả trung gian như công bố hay nguyên mẫu ban đầu.
Theo Bộ trưởng, phát triển khoa học và công nghệ phải được đo bằng sản phẩm, dịch vụ và giá trị tạo ra. Do đó, các viện, trường trong khối chủ lực cần theo dõi và trở thành những mắt xích sau cùng để kết quả nghiên cứu thực sự chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh, tăng năng suất và chất lượng sống.
Để phân vai rõ ràng trong chuỗi tạo giá trị, Bộ trưởng đưa ra cách tiếp cận "0-1, 1-N, N-100%". Trong đó, giai đoạn 0-1 là nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, biến "không thành có"; giai đoạn 1-N là đổi mới sáng tạo, biến công nghệ thành nhiều sản phẩm, dịch vụ, giải pháp để giải các bài toán kinh tế - xã hội; còn giai đoạn N-100% là đưa sản phẩm ra thị trường và phổ cập tới người dân, trong đó chuyển đổi số đóng vai trò như "bộ khuếch đại" giúp lan tỏa nhanh và mở rộng tác động. Từ cách tiếp cận này, "bộ ba" KHCN, ĐMST và CĐS được xác định là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Trong định hướng các chương trình KH&CN giai đoạn mới, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, trọng tâm sẽ là danh mục công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là cấu trúc lại từng chương trình theo hướng "ra đích" cụ thể, không dừng ở tên lĩnh vực. Theo đó, mỗi chương trình gắn với một lĩnh vực hoặc công nghệ chiến lược cần được thiết kế đầy đủ 3 cấu phần: Nghiên cứu khoa học; Phát triển công nghệ và sản phẩm; Sản xuất và thị trường. Bộ trưởng nhấn mạnh, danh mục công nghệ chiến lược mới chỉ là điểm khởi đầu, bước tiếp theo phải làm rõ công nghệ lõi và các sản phẩm, giải pháp cụ thể để bảo đảm chương trình đi đến kết quả đo lường được và tạo ra giá trị.
Trên nền cấu trúc ấy, Bộ trưởng đặt vấn đề "đi nhanh" bằng cách huy động nguồn lực tri thức toàn cầu. Cụ thể là tiếp cận theo hướng "thuê" các nhà nghiên cứu xuất sắc nhất thế giới về giải các bài toán của Việt Nam. Theo Bộ trưởng, cách làm này không chỉ có lời giải cho bài toán trước mắt, mà còn để nâng chuẩn và kéo đội ngũ trong nước trưởng thành nhanh hơn thông qua cùng làm, cùng học và cùng tạo ra kết quả.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu điều kiện then chốt để thu hút tri thức toàn cầu.
Bộ trưởng đồng thời gợi mở xây dựng một nền tảng kết nối các phòng thí nghiệm trọng điểm để "cả Việt Nam trở thành một phòng thí nghiệm ảo", giúp nhìn thấy năng lực, chia sẻ nguồn lực, tối ưu khai thác và tạo điều kiện thu hút nhà nghiên cứu và doanh nghiệp.
Để đổi mới sáng tạo phát triển nhanh, Bộ trưởng đề nghị các viện, trường phối hợp với địa phương hình thành các khu thử nghiệm theo cơ chế đặc khu/sandbox, nơi các thử nghiệm được triển khai nhanh hơn, tạo không gian thực chứng cho công nghệ mới, mô hình mới, qua đó mở ra không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Bộ trưởng khẳng định gắn kết sẽ bền chặt khi có mục tiêu lớn và bài toán đủ lớn. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ đứng ra tổng hợp các bài toán từ Bộ, ngành, địa phương để hình thành nhiệm vụ KH&CN quốc gia, đặt hàng cho bốn đơn vị chủ lực; đồng thời duy trì cơ chế phối hợp thường xuyên để tạo sức mạnh tổng hợp Bắc - Nam, viện - trường, khoa học tự nhiên - khoa học xã hội, quản lý nhà nước - thực tiễn thị trường.
Tinh thần chung của Hội nghị 4V1M được Bộ trưởng khái quát bằng một yêu cầu trọng tâm: Làm khoa học công nghệ phải hướng tới kết quả cuối cùng, đo lường được, tạo giá trị được và đóng góp rõ ràng cho tăng trưởng, năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh KHCN, ĐMST & CĐS được đặt ở vị trí trung tâm của mô hình phát triển mới, 4 đơn vị chủ lực được kỳ vọng sẽ đóng vai trò "đầu tàu" để biến tri thức thành sức mạnh quốc gia trong giai đoạn tới.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tặng quà lưu niệm lãnh đạo Khối 4V tham dự Hội nghị.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cùng các đại biểu tham dự 4V1M chụp hình lưu niệm.







