Cùng dự có Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, lãnh đạo các Bộ ngành, cơ quan Trung ương và thành phố Hà Nội.
Tại buổi làm việc, các đại biểu đã tập trung đánh giá toàn diện những kết quả nổi bật mà Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và các đơn vị thành viên đạt được trong thời gian qua trên nhiều lĩnh vực trọng yếu. Đồng thời, thảo luận sâu về nhiệm vụ, giải pháp triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; tiến độ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Sau 73 năm xây dựng và trưởng thành, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm gắn liền với lịch sử cách mạng của đất nước, Viện đã khẳng định vai trò là trung tâm nghiên cứu hàng đầu về khoa học xã hội và nhân văn.
Từ những ngày đầu hình thành trong khói lửa kháng chiến đến thời kỳ hội nhập và phát triển, Viện luôn thể hiện bản lĩnh học thuật vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước và nhân dân; đóng góp nhiều luận cứ khoa học quan trọng, góp phần định hình đường lối, chính sách và làm giàu nền tảng tư tưởng của quốc gia.
Thủ tướng Phạm Minh Chính tham quan không gian trưng bày về Hán Nôm tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Thủ tướng Phạm Minh Chính tham quan không gian trưng bày về Hán Nôm tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Trong suốt tiến trình phát triển đất nước, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tham gia xây dựng cơ sở lý luận cho công cuộc Đổi mới từ năm 1986, đóng góp những luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện Hiến pháp và nhiều bộ luật nền tảng; góp phần hình thành và phát triển mô hình kinh tế mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam; đồng thời khẳng định vững chắc chủ quyền quốc gia thông qua các công trình nghiên cứu lịch sử, khảo cổ có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Không chỉ ghi dấu bằng những đóng góp lý luận mang tầm chiến lược, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam còn tự hào có 48 nhà khoa học, với các công trình, cụm công trình được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước.
Nhiều học giả của Viện thực sự là những "đại thụ" của nền khoa học nước nhà, được quốc tế ghi nhận, được bầu làm viện sĩ các viện hàn lâm uy tín và được vinh danh bằng việc đặt tên đường, tên trường, như: Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu, Giáo sư Đặng Thai Mai, Giáo sư Đào Duy Anh, Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông… Những tên tuổi ấy không chỉ là niềm tự hào của Viện mà còn là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và chiều sâu học thuật Việt Nam.
Thủ tướng Phạm Minh Chính tham quan không gian trưng bày kết quả nghiên cứu về khoa học - xã hội tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Với những thành tựu và cống hiến đó, Viện Hàn lâm và nhiều đơn vị, tập thể, cá nhân thuộc Viện đã được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như: Huân chương Độc lập, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao vàng; một số đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
Trụ cột quan trọng của nền khoa học quốc gia
Tại buổi làm việc, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất tới tập thể cán bộ, nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ trân trọng ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp bền bỉ, trí tuệ và tâm huyết của nhiều thế hệ trong suốt hơn bảy thập kỷ qua, đồng thời cảm ơn các giáo sư, chuyên gia đã phát biểu thẳng thắn, sâu sắc, giàu tính thực tiễn. Thủ tướng khẳng định sẽ tiếp thu với tinh thần cầu thị cao nhất, suy nghĩ thấu đáo nhất và hành động quyết liệt nhất.
Dành nhiều thời gian phân tích vị trí, vai trò của khoa học xã hội và nhân văn, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định, đây không chỉ là một lĩnh vực học thuật quan trọng, mà còn là nền tảng tư duy, là kim chỉ nam cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển toàn diện đất nước. Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo ra công cụ, thì khoa học xã hội và nhân văn định hướng cách sử dụng những công cụ ấy vì con người và vì sự phát triển bền vững.
Dẫn lại quan điểm của Albert Einstein: "Không phải mọi thứ có thể đếm được đều quan trọng và không phải mọi thứ quan trọng đều có thể đếm được", Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh những giá trị vô hình, niềm tin, bản sắc, hệ giá trị, tinh thần dân tộc chính là những yếu tố cốt lõi làm nên sức mạnh quốc gia, và đó là không gian nghiên cứu đặc thù của khoa học xã hội.
Theo Thủ tướng Phạm Mình Chính, qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên kho tàng giá trị văn hóa, tư tưởng, tinh thần vô giá. Đó chính là nguồn "học liệu sống", là nền tảng để giới khoa học xã hội nghiên cứu, gìn giữ, phát triển và lan tỏa trong bối cảnh mới, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh và bền vững.
Người đứng đầu Chính phủ khẳng định, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán quan điểm coi khoa học xã hội và nhân văn là trụ cột quan trọng của nền khoa học quốc gia, có mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời với các lĩnh vực khoa học khác, giữ vai trò đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tư tưởng ấy đã được Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm với lời căn dặn: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi", và "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy". Giáo sư Trần Văn Giàu cũng từng nhấn mạnh chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, là triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam.
Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ rõ, chính những giá trị cốt lõi ấy cần tiếp tục được nghiên cứu, luận giải sâu sắc hơn để chuyển hóa thành nguồn lực tinh thần, thành sức mạnh nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới nơi phát triển không chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng, mà còn bằng chiều sâu văn hóa, chất lượng con người và bản lĩnh dân tộc.
Theo Thủ tướng, trong mỗi chặng đường cách mạng, khoa học xã hội và nhân văn luôn giữ vai trò "đi trước mở đường", cung cấp nền tảng lý luận cho Đảng và Nhà nước trong xây dựng đường lối, chiến lược phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần phát triển, làm sâu sắc nền tảng lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng; khơi dậy, bồi đắp tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự cường của dân tộc; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái bằng lập luận sắc bén và thực tiễn thuyết phục; đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa, khoa học với bạn bè quốc tế.
Bước vào thời kỳ Đổi mới, lĩnh vực này tiếp tục đóng góp quan trọng trong việc hình thành cơ sở lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng Cương lĩnh năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011; tham gia hoạch định các Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội qua từng giai đoạn.
Trong "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", Đảng xác định phát triển khoa học, công nghệ là đột phá quan trọng hàng đầu, song đồng thời kiên định nguyên tắc không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội và an sinh xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trong bối cảnh đó, khoa học xã hội và nhân văn càng giữ vai trò then chốt trong việc bồi đắp nền tảng tư tưởng, định hướng hệ giá trị, phát triển văn hóa và tri thức xã hội; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Đội ngũ các nhà khoa học xã hội chính là lực lượng góp phần cung cấp "phần hồn" cho sự phát triển nơi hội tụ trí tuệ, bản sắc và chiều sâu văn hóa; qua đó củng cố sức mạnh nội sinh và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Khẳng định vị thế của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, đây là trung tâm nghiên cứu chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước về khoa học xã hội; lực lượng nòng cốt trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước; đồng thời giữ vai trò quan trọng trong gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, con người và trí tuệ Việt Nam.
Viện thực sự là "cơ quan tham mưu chiến lược" của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nơi kết tinh trí tuệ của nhiều thế hệ học giả, trung tâm luận giải những vấn đề lớn của quốc gia, khơi mở tư duy, phương pháp luận và cách tiếp cận mới để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn trong bối cảnh phát triển nhanh và bền vững hiện nay.
Nhắc lại truyền thống hơn 70 năm xây dựng và phát triển của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cùng đội ngũ trí thức, nhà khoa học tâm huyết, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định, thời gian qua, Viện đã kế thừa và phát huy hiệu quả truyền thống vẻ vang, hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng tâm được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Thủ tướng cho rằng vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục trăn trở, đổi mới và bứt phá. Viện cần phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, thống nhất, hoạt động trên cơ sở tuân thủ nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tập trung đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản theo hướng sâu hơn, rộng hơn, với tầm nhìn dài hạn, tư duy chiến lược, "nghĩ sâu, làm lớn". Đồng thời, cần chủ động, tiên phong trong đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường gắn kết với địa phương, doanh nghiệp để đưa nghiên cứu vào thực tiễn; xây dựng cơ chế bảo vệ, khuyến khích những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; quan tâm bồi dưỡng, phát hiện và "ươm trồng" đội ngũ khoa học trẻ kế cận, bảo đảm sự phát triển bền vững, liên tục của nền khoa học xã hội nước nhà.
Khẳng định vai trò "cơ quan tham mưu chiến lược"
Phân tích yêu cầu phát triển khoa học xã hội trong kỷ nguyên mới, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ định hướng: Phát triển đồng bộ, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm khoa học xã hội và nhân văn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Đây không chỉ là yêu cầu về quy mô hay tổ chức nghiên cứu, mà là đòi hỏi nâng tầm tư duy lý luận, năng lực dự báo và chất lượng tham mưu chiến lược.
Cùng với đó, các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị tiếp tục đặt ra những yêu cầu rất cụ thể. Nghị quyết số 59 về hội nhập quốc tế nhấn mạnh chuyển tư duy từ "tham gia" sang "xây dựng, định hình" luật chơi quốc tế. Nghị quyết số 66 về xây dựng và thi hành pháp luật yêu cầu chủ động nghiên cứu chiến lược, chính sách từ sớm, từ thực tiễn và từ kinh nghiệm quốc tế. Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân đòi hỏi phải xóa bỏ triệt để những định kiến, rào cản về nhận thức.
Thủ tướng Chính phủ cho rằng, những định hướng lớn đó đặt ra hàng loạt câu hỏi mang tính chiến lược mà khoa học xã hội cần luận giải thấu đáo: Làm thế nào để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình? Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại song hành với hoàn thiện quan hệ sản xuất ra sao? Mô hình quản trị quốc gia nào phù hợp với kỷ nguyên số? Xây dựng hệ giá trị quốc gia như thế nào để vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại? Làm sao để tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển con người, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường xanh, sạch, đẹp? Và làm thế nào để hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả mà vẫn giữ vững độc lập, tự chủ?
Trên tinh thần đó, Thủ tướng yêu cầu Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phải phát triển đột phá, tiếp tục khẳng định vai trò là "cơ quan tham mưu chiến lược" của Đảng và Nhà nước về khoa học xã hội và nhân văn. Phương châm 24 chữ được Thủ tướng nhấn mạnh chính là định hướng hành động trong giai đoạn mới: "Lý luận phát triển - Bản sắc giữ gìn - Truyền thống phát huy - Tinh hoa hấp thụ - Phản biện sắc sảo - Kiến tạo tương lai".
Đó không chỉ là khẩu hiệu định hướng, mà là yêu cầu cụ thể về nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tăng cường phản biện chính sách một cách khoa học, độc lập và xây dựng; qua đó góp phần kiến tạo nền tảng tư duy cho con đường phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
8 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Thứ nhất, tập trung cao độ triển khai quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả, phân công "6 rõ" và bảo đảm nguồn lực thực hiện.
Thứ hai, nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới. Chủ động, tích cực tham gia nghiên cứu tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tiên phong trong nghiên cứu, luận giải, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng; về con đường và mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện Việt Nam, về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, xuyên tạc, thù địch.
Thứ ba, nâng cao chất lượng, hiệu quả tư vấn chính sách, đóng góp thiết thực cho lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, Chính phủ trên tinh thần "Tư vấn kịp thời - Phân tích sâu sắc - Dự báo chính xác - Kiến nghị khả thi và thiết thực".
Thứ tư, đẩy mạnh đào tạo nhân lực trình độ cao về khoa học xã hội, đáp ứng nhu cầu đất nước trong tình hình mới; quá trình đào tạo cũng là quá trình tạo động lực, truyền cảm hứng cho người học.
Thứ năm, tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế; thúc đẩy hiệu quả hợp tác 3 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp; với tinh thần hội tụ trí tuệ, lan tỏa lợi ích; đoàn kết để có sức mạnh, hợp tác để có lợi ích và đối thoại để tăng cường lòng tin.
Thứ sáu, tiên phong, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động nghiên cứu và quản lý, trong chuyển đổi xanh; góp phần thay đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế.
Thứ bảy, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật gắn với đổi mới mô hình quản trị. Khẩn trương quy hoạch hoàn thiện các tòa nhà, trụ sở làm việc, đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ nghiên cứu chuyên sâu.
Thứ tám, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học ngang tầm nhiệm vụ, xây dựng tập thể trong sạch, vững mạnh toàn diện. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy bảo đảm "Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả" phù hợp với tình hình mới. Tập trung xây dựng trình cấp có thẩm quyền và triển khai các đề án về tăng cường năng lực, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, viên chức của Viện.
Thủ tướng kỳ vọng, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát huy truyền thống, tự hào, tự tin, tự lực, tự cường, đi lên từ bàn tay, khối óc, phát triển đột phá, mạnh mẽ bằng sức mạnh nội sinh; tập trung nghiên cứu tư duy, phương pháp luận, cách tiếp cận, con đường và mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa; nghiên cứu, phân tích sâu sắc hơn về nội hàm của "kỷ nguyên mới", "kỷ nguyên vươn mình của đất nước" mà Tổng Bí thư Tô Lâm đưa ra; nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trong tổng thể; giải pháp kết hợp, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; tiên phong trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi cơ cấu; luôn đặt con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực, nguồn lực phát triển, phát huy tối đa nguồn lực con người…
Để tạo điều kiện cho Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát triển, Chính phủ, các Bộ, ngành sẽ rà soát cơ chế, chính sách, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao hơn nữa về hoạt động, khai thác nguồn lực và phát triển đội ngũ nhân lực.
Về các kiến nghị, Chính phủ, các Bộ, ngành sẽ giải quyết ngay theo thẩm quyền và đề xuất cấp có thẩm quyền nếu vượt thẩm quyền.
Thủ tướng giao Bộ Nội vụ phối hợp với Viện về cơ chế thu hút, tuyển dụng, đãi ngộ nhân lực chất lượng cao.
Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học xã hội và nhân văn theo hướng tự chủ, gắn với trách nhiệm giải trình; cơ chế đặt hàng, khoán theo sản phẩm, cơ chế hợp tác công tư...
Bộ Tài chính bố trí nguồn lực tương xứng, tạo điều kiện để Viện đầu tư vào nghiên cứu chất lượng cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Thanh tra Chính phủ nghiên cứu, hỗ trợ Viện tháo gỡ các tồn đọng kéo dài nhiều năm vượt quá khả năng tự khắc phục.
Thủ tướng tin tưởng, qua hơn 70 năm với nhiều thăng trầm và đột phá, với sứ mệnh "tham mưu chiến lược" cho Đảng, Nhà nước, với truyền thống đoàn kết, sức sáng tạo vô hạn và bản lĩnh học thuật ưu tú, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam sẽ tiếp tục chinh phục những đỉnh cao mới, xứng đáng là niềm tự hào của nền khoa học nước nhà.








