Thực hiện từ tháng 6/2019 đến tháng 12/2025, công trình “Nền tảng công nghệ và thiết kế chế tạo hạ tầng mạng viễn thông 5G phục vụ lưỡng dụng cho hạ tầng số quốc gia và quốc phòng an ninh” do Tổng Công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel, thuộc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội chủ trì nghiên cứu, làm chủ các công nghệ nền tảng, phát triển hệ sinh thái thiết bị và hệ thống viễn thông 5G hoàn chỉnh.
Sau hơn 6 năm nghiên cứu, đội ngũ kỹ sư Viettel đã phát triển các sản phẩm chủ lực gồm trạm thu phát sóng 5G (gNodeB), mạng lõi 5G Core, hệ thống thoại IMS, hệ thống tính cước trực tuyến OCS và thiết bị truyền dẫn Site Router 100G. Các thành phần được thiết kế, tích hợp đồng bộ theo tiêu chuẩn quốc tế, hình thành năng lực cung cấp giải pháp mạng 5G từ đầu cuối đến đầu cuối.

Thiết bị trạm gốc 5G do Viettel nghiên cứu, phát triển được giới thiệu tại triển lãm của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Trong đó, hệ thống trạm gốc 5G ghi nhận bước tiến quan trọng khi chuyển từ nghiên cứu, thử nghiệm sang sản xuất và triển khai trên mạng lưới. Riêng năm 2025, Viettel đã sản xuất và cung cấp 2.000 trạm gNodeB theo kiến trúc Open RAN, hỗ trợ đồng thời hai phương thức triển khai mạng 5G độc lập (SA) và không độc lập (NSA). Tổng số trạm gốc 5G gNodeB các loại do Viettel phát triển được triển khai đạt 2.800 thiết bị.
Cùng với mạng truy nhập vô tuyến, các sản phẩm truyền dẫn do Viettel nghiên cứu, chế tạo cũng được đưa vào khai thác ở quy mô lớn. Hệ thống Site Router 100G ghi nhận 648 thiết bị triển khai trong năm 2023 và tiếp tục mở rộng thêm 2.189 thiết bị vào năm 2025, nâng tổng số lên 2.837 thiết bị. Các sản phẩm đã vận hành trên mạng lưới, phục vụ truyền tải lưu lượng cho mạng di động 3G, 4G, 5G, Internet băng rộng và các dịch vụ viễn thông khác.
Ở lớp mạng lõi và dịch vụ, hệ thống 5G Core NSA được triển khai với quy mô 17 triệu thuê bao; hệ thống thoại IMS đạt 50 triệu thuê bao và hệ thống tính cước trực tuyến OCS 4.0 đạt 100 triệu thuê bao. Việc tự phát triển và vận hành các nền tảng này giúp Viettel chủ động trong quản lý kết nối, cung cấp dịch vụ, tối ưu tài nguyên mạng và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Một kết quả đáng chú ý khác là năng lực tổ chức sản xuất thiết bị viễn thông công nghệ cao. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng, hoàn thiện dây chuyền sản xuất các dòng trạm gốc 5G với nhiều cấu hình khác nhau, đồng thời phát triển hệ thống kiểm thử tự động để đánh giá chất lượng sản phẩm. Việc chuẩn hóa quy trình sản xuất, đo kiểm và hiệu chuẩn góp phần bảo đảm chất lượng thiết bị, tạo điều kiện mở rộng quy mô triển khai.
Các sản phẩm của công trình đã từng bước tiếp cận thị trường quốc tế. Trong đó, sản phẩm 5G của Viettel đã được xuất khẩu sang Ấn Độ, Mỹ và UAE; thiết bị vô tuyến được thử nghiệm tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả nghiên cứu còn được ghi nhận qua 8 sáng chế được cấp bằng bảo hộ tại Mỹ, 50 sáng chế tại Việt Nam và 43 bài báo khoa học quốc tế.

Kỹ thuật viên Viettel triển khai lắp đặt thiết bị phát sóng 5G trên mạng lưới.
Viettel từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, phát triển và sản xuất đồng bộ các thành phần quan trọng của hạ tầng mạng 5G. Việc làm chủ công nghệ không chỉ góp phần giảm phụ thuộc vào thiết bị, giải pháp của các nhà cung cấp nước ngoài mà còn tạo cơ sở phát triển hạ tầng viễn thông tự chủ, đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số và các yêu cầu ứng dụng chuyên dùng trong quốc phòng, an ninh.
Với những kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn, công trình “Nền tảng công nghệ và thiết kế chế tạo hạ tầng mạng viễn thông 5G phục vụ lưỡng dụng cho hạ tầng số quốc gia và quốc phòng an ninh” đã được Hội đồng cấp Nhà nước đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7, theo kết quả Bộ Khoa học và Công nghệ công bố ngày 18/10/2026.