Mô hình chăn nuôi an toàn tại hộ dân
Chăn nuôi lợn, gà là nguồn sinh kế quan trọng của nhiều hộ dân Tuyên Quang, nhưng sản xuất nhỏ lẻ cũng khiến người nuôi dễ bị tổn thương khi dịch bệnh xảy ra. Bài toán đặt ra không chỉ là nuôi được nhiều hơn mà phải kiểm soát được con giống, thức ăn, chuồng trại, dịch bệnh và đầu ra sản phẩm.
Từ yêu cầu đó, dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật theo phương thức chăn nuôi an toàn sinh học (lợn rừng lai, gà thả vườn) trong chuỗi khép kín tại tỉnh Tuyên Quang” thuộc Chương trình “Hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ phục vụ phát triển xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số, giai đoạn 2016- 2025” được triển khai tại Tuyên Quang, với mục tiêu xây dựng chuỗi tương đối khép kín từ sản xuất giống, nuôi thương phẩm đến tiêu thụ.

Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật theo phương thức chăn nuôi an toàn sinh học (Lợn rừng lai, Gà thả vườn) trong chuỗi giá trị khép kín tại tỉnh Tuyên Quang
Thay vì chỉ chuyển giao một kỹ thuật riêng lẻ, người dân được tiếp cận đồng bộ các quy trình nuôi lợn rừng lai, gà sinh sản, gà đẻ trứng và gà thương phẩm theo hướng an toàn sinh học, tiệm cận chăn nuôi hữu cơ.
Kết quả cập nhật tại Cục Thông tin, Thống kê, Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy mô hình lợn thương phẩm được triển khai tại ba hộ, với 600 con lợn rừng lai. Tổng lượng thịt xuất bán đạt 26,16 tấn; sau giai đoạn thực hiện, các hộ vẫn tiếp tục duy trì đàn với tổng số hơn 200 con. Các mô hình gia cầm cũng được triển khai tới 13 hộ vệ tinh với các giống gà HA, LV và ML-VCN.
Điều này cho thấy kỹ thuật không hoàn toàn dừng lại khi nhiệm vụ nghiên cứu kết thúc, mà đã được một số hộ tiếp tục sử dụng trong sản xuất.
Giảm chi phí và đảm bảo an toàn bằng thức ăn tại chỗ
Một trong những điểm đáng chú ý của mô hình là tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có để giảm phụ thuộc vào thức ăn công nghiệp.
Dự án xây dựng vùng cây thức ăn và ứng dụng chế phẩm vi sinh để ủ, chế biến thức ăn cho vật nuôi. Khoảng 50 tấn thức ăn được xử lý bằng công nghệ lên men sinh học, giúp chủ động hơn về nguồn thức ăn, tận dụng phụ phẩm và giảm chất thải ra môi trường.
Với gia cầm, các mô hình gà sinh sản, gà đẻ trứng và gà thịt cũng giúp người dân tiếp cận quy trình kiểm soát từ giống, thức ăn đến vệ sinh chuồng trại. Giá trị lâu dài của cách làm này nằm ở việc hình thành thói quen phòng bệnh từ đầu thay vì chỉ xử lý khi dịch đã xảy ra.
Kế hoạch phát triển chăn nuôi của tỉnh Tuyên Quang năm 2026 tiếp tục yêu cầu nhân rộng chăn nuôi an toàn sinh học, mô hình khép kín, đệm lót sinh học và sử dụng men vi sinh, đồng thời tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để chế biến thức ăn, giảm chi phí sản xuất. Tỉnh đặt mục tiêu giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2026 đạt gần 7.880 tỷ đồng.
Kế hoạch khuyến nông năm 2026 cũng tiếp tục xây dựng mô hình nuôi gà thương phẩm theo hướng an toàn sinh học, cho thấy hướng kỹ thuật từng được thử nghiệm trong các dự án trước đây vẫn đang được tiếp nối.
Từ mô hình lợn rừng lai, gà thả vườn ban đầu, giá trị quan trọng nhất của khoa học công nghệ là giúp người dân chuyển từ “nuôi rồi chữa bệnh” sang chủ động kiểm soát rủi ro ngay từ chuồng trại, thức ăn và con giống. Trong bối cảnh dịch bệnh năm 2026 vẫn phức tạp, an toàn sinh học ngày càng trở thành điều kiện để người chăn nuôi bảo vệ đàn vật nuôi và duy trì sinh kế ổn định.