Theo kết quả Bộ KH&CN công bố ngày 18/10/2026, Cụm công trình "Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ có tính sáng tạo đột phá để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả thăm dò khai thác mỏ Đại Hùng" được Hội đồng cấp Nhà nước đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7. Các giải pháp nghiên cứu của cụm công trình đã được ứng dụng trong chương trình phát triển mỏ Đại Hùng Pha 3, mang lại kết quả vượt dự báo tại nhiều giếng khoan.
Tại thời điểm gọi dòng, giếng DH-27P thuộc khối cấu trúc K đạt lưu lượng dầu 1.485 thùng/ngày, cao gần 4 lần so với mức dự kiến 375 thùng/ngày. Giếng DH-26P tại khối L đạt 2.689 thùng/ngày, vượt 198,7% so với kế hoạch 900 thùng/ngày. Trong khi đó, giếng DH-25P tại khối D ghi nhận lưu lượng 3.289 thùng/ngày, cao hơn 43,2% so với mức dự kiến 2.296 thùng/ngày.
Các mức dự kiến trên được xác định trong phương án phát triển mỏ (FDP), làm cơ sở so sánh với kết quả gọi dòng thực tế. Cả ba giếng đều vượt kế hoạch, trong đó DH-27P ghi nhận mức chênh lệch lớn nhất.

Công trình khai thác dầu khí thuộc dự án phát triển mỏ Đại Hùng Pha 3
Theo hồ sơ công trình, mỏ Đại Hùng có cấu trúc địa chất bị chia cắt thành hơn 30 khối bởi hệ thống đứt gãy phức tạp. Đặc tính thấm chứa và áp suất vỉa giữa các khu vực có sự khác biệt lớn, khiến việc xác định chính xác tầng chứa dầu gặp nhiều khó khăn. Các phương pháp minh giải địa chấn truyền thống còn hạn chế trong nhận diện những thân cát mỏng, dẫn đến nguy cơ bỏ sót tầng sản phẩm hoặc lựa chọn vị trí khoan chưa phù hợp.
Để khắc phục, đội ngũ nghiên cứu của Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) và PVEP-NCS đã chuẩn hóa dữ liệu từ 34 giếng khoan, tích hợp với tài liệu địa chấn 3D được tái xử lý và ứng dụng phương pháp nghịch đảo địa chấn để dự báo đặc tính vỉa chứa.
So với phương pháp trước đây chỉ nhận diện được các tập vỉa dày trên 20–25 m, giải pháp mới cải thiện độ phân giải theo phương đứng xuống khoảng 8–10 m. Khả năng nhận diện các tầng chứa mỏng giúp bổ sung thông tin về phân bố dầu khí, tạo cơ sở lựa chọn mục tiêu khoan có triển vọng hơn.
Nhóm nghiên cứu còn ứng dụng thuật toán học máy XGBoost để dự báo vận tốc sóng ngang tại những khu vực thiếu dữ liệu đo trực tiếp. Thuật toán khai thác mối quan hệ giữa các thông số địa vật lý đã có để dự báo giá trị còn thiếu, với hệ số tương quan đạt trên 0,9. Kết quả được sử dụng trong mô hình vật lý đá nhằm nâng cao độ tin cậy khi phân biệt đặc tính đất đá và chất lưu.

Cán bộ, kỹ sư tại giàn khai thác Đại Hùng
Trên cơ sở dữ liệu nghiên cứu, 30 kịch bản mô phỏng địa thống kê được xây dựng để đánh giá sự phân bố không đồng nhất của vỉa chứa và các yếu tố bất định. Việc so sánh những kịch bản này hỗ trợ lựa chọn vị trí giếng có khả năng tiếp cận nhiều tầng sản phẩm, đồng thời hạn chế các đới đứt gãy tiềm ẩn rủi ro trong thi công.
Trong quá trình khoan, công nghệ đo địa vật lý trong khi khoan (LWD) tiếp tục được ứng dụng tại DH-25P và DH-26P. Khác với phương pháp đo bằng cáp truyền thống thường thực hiện sau khi khoan một khoảng giếng, LWD cho phép thu thập dữ liệu ngay khi mũi khoan đi qua địa tầng.
Tại DH-25P, hệ thống nhận diện các vỉa sản phẩm trong khoảng độ sâu 2.860–2.978 m dọc thân giếng và ghi nhận thông tin áp suất vỉa. Tại DH-26P, kết quả đo giúp phân biệt các lớp địa tầng mỏng trong khoảng 2.700–2.810 m. Thiết bị được bố trí cách mũi khoan khoảng 6,6 m, hỗ trợ phát hiện sớm ranh giới địa tầng và điều chỉnh hoạt động khoan khi cần thiết.
Việc kết hợp mô hình dự báo với dữ liệu đo trong quá trình thi công giúp giảm bớt những bất định khi tiếp cận tầng chứa dầu. Kết quả gọi dòng tại ba giếng Đại Hùng Pha 3 đã cung cấp bằng chứng thực tế về hiệu quả của các giải pháp nghiên cứu, đồng thời tạo thêm cơ sở kỹ thuật cho việc phát triển các giếng khai thác tại những khu vực có điều kiện địa chất phức tạp.