Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

"Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000" khẳng định chủ quyền và phát triển kinh tế biển Việt Nam

Công trình "Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000" thuộc Cụm công trình "Địa chất trầm tích Việt Nam - Lý luận và Thực tiễn" do GS.TS.NGND Trần Nghi chủ biên được xuất bản trong bộ Atlas “Điều kiện Tự nhiên và Môi trường vùng biển Việt Nam và kế cận” là kết quả biên tập và xuất bản dựa trên Bản đồ địa chất Biển Đông và các cùng kế cận tỷ lệ 1/1.000.000. Cụm công trình đang được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7.

Giải mã bề mặt đáy biển bằng địa chấn và trầm tích

"Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000" là sản phẩm chính của Đề tài KC.09.23/06-10 do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên - môi trường biển (thuộc Cục Biển và Hải đảo Việt Nam) chủ trì thực hiện, GS.TS.NGND Trần Nghi làm chủ nhiệm và chủ biên bản đồ.

"Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000" khẳng định chủ quyền và phát triển kinh tế biển Việt Nam- Ảnh 1.

Bản đồ Địa chất tỷ lệ 1/4.000.000.

Bản đồ địa chất trên đất liền và bản đồ địa chất biển là dữ liệu cơ bản tối thiểu mà mỗi quốc gia phải sở hữu để phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững tài nguyên. Ở Việt Nam, trên đất liền, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản đã xây dựng hàng loạt bản đồ địa chất với các tỷ lệ từ 1/500.000 đến 1/50.000 phủ gần như toàn bộ diện tích đất liền.

Tuy nhiên, thềm lục địa Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2, gần gấp ba lần diện tích đất liền, song đến trước năm 2007 vẫn chưa có bản đồ địa chất biển hoàn chỉnh. Nguyên nhân chính là do bản đồ địa chất biển khó lập vì nhiều lý do. Trầm tích Kainozoi dưới biển nằm chủ yếu theo tầng nằm ngang đè chồng lên nhau, nếu áp dụng phương pháp lập bản đồ trên đất liền sẽ chỉ hiển thị một màu duy nhất, khiến bản đồ mất giá trị thực tiễn. Hơn nữa, mạng lưới lỗ khoan sâu trên Biển Đông còn thưa thớt, thiếu thông tin trầm tích đủ để xây dựng bản đồ chi tiết.

Thiết lập bản đồ địa chất trên biển là một bài toán phức tạp, không thể áp dụng các phương pháp đo vẽ thực địa như trên đất liền. Lần đầu tiên, GS. Trần Nghi cùng nhóm nghiên cứu đề xuất phương pháp tiếp cận 2 trong 1 đã được áp dụng nhuần nhuyễn: Tập trung khai thác dữ liệu địa vật lý với vai trò chủ đạo, đặc biệt tập trung minh giải mặt cắt địa chấn sâu và địa chấn nông có phân giải cao. 

Trường sóng địa chấn, dưới lăng kính của các nhà khoa học, không phải là những đường nhiễu vô tri mà là "ánh xạ" chân thực của các thành tạo địa chất. Nhờ đó, các chuyên gia có thể đọc được cấu tạo, thành phần thạch học, môi trường hình thành, cũng như xác định các kiểu đứt gãy kiến tạo (thuận, nghịch, trượt bằng, listric...) hoặc sự hiện diện của các khối magma núi lửa. Các khối magma này có tuổi từ Oligocen đến Đệ Tứ, bao gồm nhiều thành phần thạch học như granit, basalt, andesit, rhyolit..., thể hiện mối quan hệ phong phú từ xuyên cắt đến đồng trầm tích với lớp đá xung quanh.

Đối với dữ liệu địa chấn nông phân giải cao, việc minh giải thành công đòi hỏi sự am tường sâu sắc về các chu kỳ trầm tích trong thời kỳ Pliocen - Đệ Tứ (với 3 chu kỳ trong Pliocen và 5 chu kỳ trong Đệ Tứ) và các chu kỳ biến đổi của mực nước biển toàn cầu. Dựa trên bề mặt gián đoạn trầm tích – bao gồm bất chỉnh hợp góc và bất chỉnh hợp tương đương – công trình đã xác lập thành công mô hình địa tầng phân tập và thiết lập hệ thống công thức toán học đặc thù để phục hồi chiều rộng nguyên thủy của các bể trầm tích bị biến dạng.

Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000 với sứ mệnh chính trị và an ninh quốc phòng lớn lao. Lần đầu tiên, toàn bộ Biển Đông và các vùng kế cận được số hóa, hệ thống hóa trên một bình đồ địa chất duy nhất, trở thành công cụ pháp lý và khoa học sắc bén góp phần khẳng định chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Bản đồ đã cung cấp một minh chứng: Cấu trúc địa chất thềm lục địa Việt Nam là một dải liên tục kéo dài từ vạch 0m hải đồ (ven bờ) tới ranh giới ngoài của thềm lục địa ở độ sâu 3.500m. Quan trọng hơn, số liệu địa chất đã khẳng định rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chính là bộ phận hữu cơ thuộc đới vỏ lục địa vát mỏng của thềm lục địa Việt Nam.

Bên cạnh đó, các số liệu từ bản đồ còn cung cấp những thông tin về nền móng địa chất, đứt gãy và biến dạng kiến tạo tại khu vực các quần đảo. Tại khu vực Hoàng Sa và Trường Sa, sự phát triển của các ám tiêu san hô tuổi Pliocen - Đệ Tứ đã được làm rõ, tạo tiền đề khoa học bảo vệ vững chắc phên dậu quốc gia trên biển.

Định hình chiến lược kinh tế biển bền vững

Bằng việc phân tách rõ ràng cấu trúc Biển Đông thành các vùng đặc thù (vỏ đại dương bộc lộ, vỏ lục địa vát mỏng, vỏ lục địa thực thụ dày), bản đồ đã chính xác hóa ranh giới của các bể trầm tích Kainozoi khổng lồ.

Trên nền vỏ lục địa thực thụ là sự hiện diện của các bể Sông Hồng, bể Cửu Long và bể Mã Lai - Thổ Chu. Trong khi khu vực vỏ lục địa bị vát mỏng chứa đựng bể Phú Khánh, bể Nam Côn Sơn, bể Tư Chính - Vũng Mây, bể Hoàng Sa và bể Trường Sa. Đây chính là nền tảng để ngành Dầu khí Việt Nam triển khai quy hoạch, tìm kiếm thăm dò các mỏ dầu, khí mới. Hơn nữa, bản đồ là cơ sở khoa học để săn tìm loại năng lượng của tương lai - khí hydrat (băng cháy) dưới đáy biển sâu, đồng thời định hướng cho việc khai thác khoáng sản rắn và vật liệu xây dựng.

Công trình này còn có vai trò quan trọng trong quy hoạch không gian biển tổng thể. Nhờ am hiểu địa hình đáy biển, hệ thống đứt gãy và tính chất nền đáy, các nhà hoạch định có thể tối ưu hóa quy hoạch luồng lạch giao thông hàng hải, lựa chọn vị trí chiến lược để xây dựng bến cảng nước sâu, cũng như phát triển các hạ tầng du lịch biển an toàn và bền vững.

"Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000" khẳng định chủ quyền và phát triển kinh tế biển Việt Nam- Ảnh 2.

Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000 được xuất bản trong bộ Atlas "Điều kiện Tự nhiên và Môi trường vùng biển Việt Nam và kế cận".

Giá trị đặc biệt và xuất sắc của công trình bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000 được thể hiện qua các điểm sau:

Đổi mới sáng tạo nguyên tắc thành lập bản đồ bằng phương pháp chiếu thẳng đứng, chồng chập các tổ hợp đơn vị địa tầng phủ lên nhau hiển thị trên bình đồ, giúp khắc phục hạn chế biểu hiện đơn điệu trên các bản đồ địa chất biển truyền thống;

Ứng dụng mô hình địa tầng phân tập và bể thứ cấp vào quy trình minh giải các mặt cắt địa chấn sâu, nâng cao độ chính xác và khoa học trong phân tích địa chất biển;

Xây dựng hệ thống chú giải ký hiệu đầy đủ và chi tiết trên bản đồ, bao gồm đơn vị địa tầng, cấu trúc địa chất, đứt gãy và các mặt cắt địa chấn chuẩn, đảm bảo phục vụ tối đa nhu cầu nghiên cứu và ứng dụng;

Đóng vai trò bản đồ nền quan trọng, phục vụ đa mục tiêu chiến lược, trong đó có khoanh định chính xác ranh giới các bể dầu khí Kainozoi, khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam: Chứng minh thềm lục địa Việt Nam có cấu trúc địa chất liên tục, Trường Sa và Hoàng Sa là hai bộ phận của thềm lục địa Việt Nam bị tách giãn.

Từ năm 1982, sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ về "Địa chất trầm tích dầu khí" tại Rumani, GS. Trần Nghi xác định cần tập trung chuẩn bị nguồn lực, trí tuệ, lòng yêu nghề và quyết tâm vượt qua thử thách để thực hiện trọng trách nghiên cứu địa chất biển và dầu khí tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội qua việc thành lập các bộ môn chuyên sâu như "Trầm tích và địa chất biển" (1986), "Địa chất dầu khí" (1997) và "Địa vật lý ứng dụng" (2000).

GS. Trần Nghi đã hợp tác chặt chẽ với các tổ chức, doanh nghiệp đầu ngành như Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên - môi trường biển, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Vietsovpetro, Viện Dầu khí, Liên đoàn địa chất Miền Bắc và Miền Nam để thực hiện các đề tài nghiên cứu về địa chất biển, dầu khí và trầm tích Đệ Tứ. Ông còn biên soạn giáo trình "Trầm tích học" (2002), "Địa chất biển" (2005) và công bố nhiều công trình khoa học trong nước và quốc tế nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và truyền đạt kiến thức cho thế hệ trẻ.

Ra đời năm 2009 và trải qua 16 năm đi vào thực tiễn, Công trình "Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/4.000.000" góp phần thiết thực bảo vệ chủ quyền quốc gia, phát triển ngành dầu khí và quản lý tài nguyên biển hiệu quả. Công trình đã minh chứng cho lòng say mê, tâm huyết và trí tuệ của GS. Trần Nghi cùng đồng nghiệp trên hành trình khám phá và bảo vệ biển đảo quê hương.

Trung tâm Truyền thông KH&CCN
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm