Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực phát triển đất nước, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là phát triển hạ tầng số hay nền tảng số, mà còn phải phổ cập kỹ năng số tới từng người dân. Nếu thiếu năng lực tiếp cận và sử dụng công nghệ, khoảng cách số có thể trở thành rào cản mới đối với phát triển kinh tế - xã hội và cơ hội tham gia môi trường số của nhiều nhóm đối tượng.
Thanh niên là lực lượng nòng cốt đưa công nghệ đến với người dân. Ảnh minh họa.
Từ yêu cầu đó, nhiều địa phương đang chuyển mạnh từ cách làm mang tính phong trào sang triển khai các mô hình cụ thể, bám sát nhu cầu thực tiễn của người dân.
Tại Lâm Đồng, "Bình dân học vụ số" được xác định là giải pháp đột phá nhằm phổ cập tri thức và kỹ năng số cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nội dung chuyển đổi số được lồng ghép vào sinh hoạt chi bộ, đoàn thể, hội nghị chuyên đề và các hoạt động truyền thông trên nền tảng số nhằm nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ trong cộng đồng.
Tại Hà Nội, nhiều đội hình "Bình dân học vụ số" được thành lập để hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến, sử dụng dịch vụ công và tiếp cận các nền tảng số ngay tại cơ sở. Trong khi đó, tại Cà Mau, phong trào được triển khai gắn với nền tảng học trực tuyến "Bình dân học vụ số", phục vụ đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức, Tổ công nghệ số cộng đồng và người dân trên địa bàn.
Ở khu vực biên giới, nhiều hoạt động hỗ trợ kỹ năng số cũng được triển khai nhằm giúp người dân tiếp cận công nghệ và dịch vụ số. Tại Lai Châu, lực lượng biên phòng phối hợp hướng dẫn người dân sử dụng các ứng dụng số phục vụ đời sống và tiếp cận thông tin trên môi trường mạng.
Người dân tỉnh Lai Châu được cán bộ biên phòng phổ biến về kỹ năng số.
Đáng chú ý, phương thức "cầm tay chỉ việc" đang phát huy hiệu quả rõ nét tại nhiều địa phương, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Thay vì triển khai dàn trải, các hoạt động tập trung vào những kỹ năng thiết yếu như sử dụng điện thoại thông minh, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, thương mại điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân và nhận diện thông tin xấu độc trên môi trường mạng.
Nhiều mô hình linh hoạt cũng được triển khai tại cơ sở như lớp học số lưu động, tổ hướng dẫn kỹ năng số cộng đồng, video hướng dẫn ngắn trên mạng xã hội và các nhóm hỗ trợ trực tuyến qua Zalo, Facebook. Các tổ công nghệ số cộng đồng, lực lượng đoàn viên, thanh niên và cán bộ cơ sở trở thành lực lượng nòng cốt hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ số ngay tại địa bàn dân cư.
Một trong những điểm đáng chú ý của phong trào hiện nay là chuyển từ tư duy "triển khai nhiệm vụ" sang "quản trị kết quả". Theo đó, hiệu quả không chỉ được đánh giá bằng số lượng hội nghị, lớp tập huấn hay tài liệu tuyên truyền, mà bằng khả năng người dân thực sự sử dụng được công nghệ số trong đời sống và công việc hằng ngày.
Bên cạnh phổ cập kỹ năng, nhiều địa phương cũng chú trọng xây dựng văn hóa số và thói quen sử dụng công nghệ an toàn, văn minh. Người dân được hướng dẫn kỹ năng bảo mật thông tin cá nhân, phòng tránh lừa đảo trực tuyến, kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ và sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm.
Đổi mới phương thức truyền thông cũng được xem là yếu tố quan trọng để lan tỏa phong trào. Nội dung tuyên truyền được định hướng ngắn gọn, trực quan, dễ hiểu và gần gũi với đời sống; đồng thời tận dụng hiệu quả các nền tảng số phổ biến nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của người dân.
Trong tiến trình xây dựng xã hội số, "Bình dân học vụ số" không chỉ là hoạt động phổ cập kỹ năng, mà đang từng bước trở thành nền tảng quan trọng để hình thành công dân số, thúc đẩy xã hội số và bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tham gia vào môi trường số một cách bình đẳng, an toàn và hiệu quả.