Bỏ qua đến nội dung chính

Bứt phá bằng công nghệ chiến lược: Nâng tầm năng lực cạnh tranh quốc gia

Thứ bảy, 21/02/2026 01:55

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng quyết liệt, phát triển công nghệ chiến lược không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu sống còn đối với mỗi quốc gia. Việt Nam đứng trước thời cơ lớn để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, song cũng đối mặt với những thách thức chưa từng có về tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bối cảnh toàn cầu và yêu cầu cấp bách đặt ra

Thế giới đang chuyển dịch từ mô hình "toàn cầu hóa" sang các "liên minh công nghệ" (techno-alliances), nơi các quốc gia lựa chọn từ 10-20 lĩnh vực công nghệ chiến lược để tập trung nguồn lực phát triển. Các cuộc đua về trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ lượng tử hay công nghệ sinh học không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn gắn chặt với an ninh quốc gia và tự chủ chiến lược.

Theo World Bank, để đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần nâng mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) lên 3-5%/năm, đóng góp khoảng 50% vào tăng trưởng GDP. Điều này đòi hỏi phải tăng giá trị gia tăng nội địa, chuyển từ mô hình lắp ráp sang làm chủ công nghệ và kỹ năng cao, đồng thời tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu lựa chọn công nghệ phù hợp, quyết tâm đi tắt, đón đầu, tiếp cận công nghệ tiên tiến và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu đang là lựa chọn tất yếu. Tinh thần này được thể chế hóa trong Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển công nghệ chiến lược và Danh mục 11 nhóm công nghệ ưu tiên theo Quyết định 1131/QĐ-TTg.

Việt Nam sở hữu nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, có thế mạnh về toán học và công nghệ thông tin; hệ sinh thái khởi nghiệp được đánh giá thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN. Số lượng công bố quốc tế tăng trưởng trên 15%/năm, với hơn 18.000 bài báo ISI/Scopus và hơn 24.000 tiến sĩ, tiến sĩ khoa học trên cả nước. Hạ tầng nghiên cứu từng bước được củng cố với 17 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, Trung tâm Vũ trụ và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC).

Tuy nhiên, khoảng cách về sáng chế và thương mại hóa vẫn là thách thức lớn. Việt Nam thiếu các "tổng công trình sư", chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực hẹp như chip, AI; còn tồn tại "thung lũng tử thần" khi chuyển giao kết quả nghiên cứu ra thị trường. Phân vai theo các mức độ sẵn sàng công nghệ (TRL) tuy có tính tương đối nhưng cho thấy yêu cầu phải liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản phát triển công nghệ, sản xuất thử nghiệm, thương mại hóa sản phẩm.

Tiếp cận hệ thống: Chuỗi giá trị và sứ mệnh quốc gia

Phát triển công nghệ chiến lược cần được nhìn nhận theo cách tiếp cận hệ thống, coi toàn bộ chuỗi giá trị công nghệ là một nền tảng thống nhất, trong đó các cấu phần phải được thúc đẩy song song và có sự liên kết chặt chẽ.

Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo và dẫn dắt thị trường; doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong đổi mới sáng tạo; viện, trường đại học là lực lượng nòng cốt về nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Sự phối hợp giữa các chủ thể này quyết định khả năng bứt phá.

Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp dẫn đầu, SMEs công nghệ, start-up và các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, cần được đặt vào vị trí trung tâm của hệ sinh thái. Trong chuỗi cung ứng công nghệ bán dẫn hay AI, mỗi tầng nấc đều đòi hỏi năng lực chuyên sâu và sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.

Đối với Nhà nước, trước hết cần xác định rõ danh mục công nghệ chiến lược theo Quyết định 1131/QĐ-TTg; đồng thời đẩy mạnh đầu tư mạo hiểm công cho các lĩnh vực rủi ro cao mà khu vực tư nhân chưa đủ khả năng tham gia. Cơ chế mua sắm công cần được sử dụng như công cụ tạo thị trường ban đầu cho công nghệ nội địa.

Về thể chế, cần triển khai cơ chế "sandbox" cho phép thử nghiệm công nghệ, mô hình mới trong phạm vi kiểm soát; chuyển từ cơ chế "kiểm soát chi" sang "khoán chi đến sản phẩm cuối cùng", chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu; thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm nhà nước cho deep tech; trao quyền tự chủ tối đa cho các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.

Các viện nghiên cứu, trường đại học tập trung vào ba trụ cột: Nghiên cứu cơ bản tạo tri thức mới; làm chủ công nghệ chiến lược; đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ đáp ứng yêu cầu phát triển. Các cụm công nghệ như công nghệ sinh học - y sinh - môi trường; AI và dữ liệu lớn cho các bài toán chiến lược; vật liệu mới, nano, năng lượng, môi trường cần được đầu tư trọng điểm.

Bên cạnh đó, các cơ quan nghiên cứu chính sách đóng vai trò quan trọng trong tư vấn, đánh giá tác động và dự báo xu hướng phát triển công nghệ, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cho các nghị quyết lớn, phân tích tác động của AI, công nghệ lượng tử, sinh học tới kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng.

Việt Nam đang đứng trước thời cơ lịch sử để tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Tuy nhiên, thời cơ chỉ trở thành hiện thực khi có sự vào cuộc quyết liệt của toàn bộ hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và khối viện, trường với cách tiếp cận hệ thống và tầm nhìn dài hạn.

Mục tiêu được xác định rõ: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, giữ vị trí trụ cột trong mô hình phát triển mới của đất nước. Phát triển công nghệ chiến lược vì thế không chỉ là một chương trình hành động, mà là lựa chọn chiến lược bảo đảm an ninh sinh tồn và khát vọng phát triển thịnh vượng của Việt Nam đến năm 2045.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
icon Xem theo ngày

Cổng thông tin điện tử các đơn vị thuộc Bộ

Doanh nghiệp

Top