Chuyển dịch từ viễn thông truyền thống sang hạ tầng năng lực số
Cụ thể hóa định hướng này, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, kế hoạch triển khai, trong đó xác định rõ hạ tầng số là hạ tầng của nền kinh tế, giữ vai trò nền tảng để phát triển kinh tế số, chính phủ số và xã hội số.
Theo Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ), giai đoạn 2026-2030 là thời kỳ tăng tốc kiến tạo hạ tầng số với tiêu chuẩn cao, hướng tới ngang tầm các nước tiên tiến. Riêng trong năm 2026, tốc độ băng rộng di động dự kiến đạt 170 Mbps, băng rộng cố định đạt 300 Mbps; 99% dân số được phủ sóng 5G và khoảng 40% người dân có khả năng truy cập Internet băng rộng tốc độ 1Gbps.
Những mục tiêu này không chỉ phản ánh tầm nhìn dài hạn mà còn gắn trực tiếp với chiến lược phát triển quốc gia, khi Việt Nam đặt mục tiêu trong 20 năm tới nâng quy mô GDP lên khoảng 5 lần, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Trong bối cảnh đó, viễn thông đang đứng trước một bước ngoặt mang tính chiến lược.
Thực tiễn phát triển cho thấy, viễn thông không còn dừng lại ở vai trò hạ tầng kết nối, mà đang chuyển mình thành hạ tầng năng lực số của toàn bộ nền kinh tế. Các doanh nghiệp viễn thông phải tái định vị, chuyển từ cung cấp dịch vụ truyền thống sang doanh nghiệp hạ tầng số.

Từ kết nối đến năng lực số - bước chuyển chiến lược của viễn thông Việt Nam.
Thay vì chỉ "bán băng thông", các nhà mạng đang hướng tới cung cấp các gói dịch vụ số hoàn chỉnh, tích hợp điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, an toàn, an ninh mạng, IoT và các nền tảng số. Đây chính là đầu vào thiết yếu cho doanh nghiệp và xã hội trong tiến trình chuyển đổi số toàn diện.
Song song với đó, Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu nâng tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) lên 2% GDP vào năm 2030, tương đương khoảng 9 tỷ USD mỗi năm. Các doanh nghiệp lớn như Viettel kiến nghị cần sớm ban hành cơ chế phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực này, ưu tiên cho các công nghệ nền tảng, có tính lan tỏa cao như công nghiệp bán dẫn, vệ tinh tầm thấp, công nghệ lưỡng dụng phục vụ quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế.
Cùng với đó, việc hình thành và vận hành hiệu quả quỹ đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược được kỳ vọng sẽ tạo cú hích cho các lĩnh vực then chốt như quốc phòng, không gian, năng lượng, trí tuệ nhân tạo và hạ tầng tín hiệu giao thông.
Hạ tầng số tăng trưởng mạnh, tạo nền móng cho kinh tế số
Các chỉ số phát triển hạ tầng số của Việt Nam thời gian qua cho thấy những bước tiến rõ nét. Theo báo cáo của Bộ KH&CN, tính đến tháng 02/2026 tốc độ băng rộng di động đạt 174,98 Mbps, xếp hạng 15/103 quốc gia; băng rộng cố định đạt 284,99 Mbps, xếp hạng 10/152 tiệm cận nhóm các quốc gia dẫn đầu.
Số thuê bao Internet băng rộng di động đạt hơn 110,29 triệu, trong đó có 20,13 triệu thuê bao 5G; băng rộng cố định đạt 25,36 triệu thuê bao, với mật độ 107,8 thuê bao/100 dân. Tài nguyên Internet tiếp tục mở rộng với hơn 684 nghìn tên miền ".vn", tăng 9,13%; tỷ lệ sử dụng IPv6 đạt 65%, đứng thứ 7 toàn cầu.
Hạ tầng trung chuyển Internet quốc gia (VNIX) duy trì lưu lượng lớn, đạt 1.427 triệu GB dữ liệu, với tổng băng thông kết nối 483 Gbps. Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) đã kết nối hơn 90 Bộ, ngành, địa phương và tổ chức, doanh nghiệp; 30 cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin đang cung cấp dịch vụ chia sẻ dữ liệu, với trung bình khoảng 3,6 triệu giao dịch mỗi ngày.

Đẩy nhanh hạ tầng số, tăng tốc chuyển đổi sang nền kinh tế số.
Hạ tầng chữ ký số cũng phát triển nhanh, với 27,31 triệu chứng thư đã được cấp, tương đương gần 40% dân số trưởng thành. Đồng thời, tài nguyên Internet tiếp tục được khai thác hiệu quả; công tác viễn thông công ích được bảo đảm, góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền.
Cùng với đó, việc quản lý và phân bổ tần số vô tuyến được triển khai chủ động, tạo điều kiện nâng cao chất lượng mạng di động và thúc đẩy triển khai các công nghệ mới.
Những kết quả này không chỉ khẳng định vai trò nền tảng của hạ tầng số, mà còn cho thấy Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia số, với hệ sinh thái công nghệ hiện đại, tự chủ và bền vững.

