Bỏ qua đến nội dung chính

Cần số hóa di sản và cần có nền tảng số quốc gia để phân phối các nội dung về văn hóa

Thứ sáu, 24/04/2026 08:27

Góp ý vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam, đại biểu Quốc hội Trần Thị Vân cho rằng, cần số hóa di sản và cần có nền tảng số quốc gia để phân phối các nội dung về văn hóa. Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ số và bảo vệ bản quyền trên môi trường số.

Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ số và bảo vệ bản quyền trên môi trường số

Nêu ý kiến thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam sáng 22/4, đại biểu Trần Thị Vân (Đoàn ĐBQH Bắc Ninh) bày tỏ nhất trí với nhiều nội dung trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội cũng như các giải pháp mà Chính phủ đã đề xuất nhằm bảo tồn văn hóa truyền thống và thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển văn hóa.

Để các chính sách này thực sự đi vào cuộc sống và có hiệu quả, đại biểu đề xuất một số các nội dung như sau:

Trước hết, có thể khẳng định dự thảo nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm tương đối toàn diện đến cả hai trụ cột chính, đó là bảo tồn di sản và phát triển công nghiệp văn hóa. Điều đó vừa giữ gìn được bản sắc dân tộc không bị mai một trong quá trình hội nhập, vừa xác định công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế tiềm năng để khuyến khích phát triển.

Cần số hóa di sản và cần có nền tảng số quốc gia để phân phối các nội dung về văn hóa- Ảnh 1.

Đại biểu Trần Thị Vân (Đoàn ĐBQH Bắc Ninh) phát biểu.

Tuy nhiên, có một thực tế đang tồn tại đó là trong khi nhu cầu tiếp cận văn hóa ngày càng đa dạng và mang tính thị trường, thì công tác bảo tồn văn hóa ở nước ta lại chủ yếu được triển khai theo hướng là bảo tồn tĩnh. Tập trung vào lưu giữ, phục dựng và bảo vệ nguyên trạng di sản. Cách tiếp cận này tuy giữ được bản sắc văn hóa nhưng lại bộc lộ nhiều hạn chế, đó là: văn hóa bị tách khỏi đời sống đương đại và khó tiếp cận, đặc biệt là với thế hệ trẻ; thiếu cơ chế chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế; và văn hóa phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách Nhà nước, từ đó thiếu tính bền vững.

Trong khi những giá trị văn hóa này nếu chúng ta đưa được vào sản phẩm công nghiệp sáng tạo lại có khả năng lan tỏa rất nhanh, rất rộng và rất mạnh.

Đại biểu lấy ví dụ: Bộ phim "Mưa đỏ" là một bộ phim chiến tranh khai thác từ yếu tố lịch sử, văn hóa và cách mạng; MV "Bắc Bling" - sản phẩm giải trí hiện đại thì được khai thác từ chất liệu văn hóa truyền thống; "Cậu bé sói Wolfoo" - phim hoạt hình Việt Nam sản xuất bằng sản phẩm văn hóa nội dung số, đạt 3 tỷ lượt người xem toàn cầu trên tháng, 50 triệu người theo dõi đa nền tảng và phát hành bằng 17 ngôn ngữ khác nhau hay ngành game Việt Nam dẫn đầu khu vực, bước đầu đã tích hợp yếu tố văn hóa dân tộc vào sản phẩm với doanh thu từ người dùng quốc tế lên đến hàng trăm triệu USD trên năm.

Điều này cho thấy văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể trở thành chất liệu sáng tạo hấp dẫn trong thời đại số. Vừa góp phần bảo tồn theo cách linh hoạt, vừa đem lại giá trị về kinh tế. Theo đại biểu, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở bảo tồn văn hóa, thì văn hóa sẽ mãi là di sản có giá trị nhưng không được khai thác. Văn hóa chỉ thực sự sống khi được đặt trong dòng chảy của thị trường và sáng tạo.

"Ở chiều ngược lại, phát triển công nghiệp văn hóa mặc dù được xác định là động lực kinh tế mới, nhưng các chính sách thì được thiết kế trong dự thảo mới chỉ dừng lại ở mức khuyến khích, chưa tạo được động lực tài chính đủ mạnh để thu hút khu vực tư nhân và đầu tư quốc tế. Dự thảo chưa có cơ chế thử nghiệm chính sách đủ linh hoạt cho lĩnh vực mới, còn thiếu các chỉ tiêu định lượng rõ ràng cho từng giai đoạn 5 năm hay 10 năm.

Vậy bao giờ di sản Việt Nam mới được số hóa? Bao giờ mới có nền tảng số quốc gia? Bao giờ chúng ta xây dựng xong bộ tiêu chí quốc gia về văn hóa? Sau 5 năm, 10 năm thì có bao nhiêu doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực văn hóa và xuất khẩu được bao nhiêu sản phẩm văn hóa? Và văn hóa đóng góp được bao nhiêu tỷ lệ phần trăm vào GDP?", đại biểu nêu vấn đề.

Từ thực tiễn nêu trên, đại biểu Trần Thị Vân đề xuất một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, đối với chính sách chuyển đổi số tại điều 10 cần được xác định là trụ cột trung tâm. Chúng ta cần số hóa di sản và cần có nền tảng số quốc gia để phân phối các nội dung về văn hóa. Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ số và bảo vệ bản quyền trên môi trường số.

Thứ hai là các chính sách ưu đãi về tài chính và thuế tại điều 4 thì cần mạnh mẽ hơn. Bên cạnh thuế suất 5% VAT ưu đãi, thì cần áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cạnh tranh cao hơn. Miễn giảm dài hạn cho các ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm và cho phép khấu trừ cao hơn đối với các chi phí sáng tạo cho điện ảnh, game và âm nhạc số. Đây là công cụ đã được kiểm chứng mà nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng hiệu quả để thu hút đầu tư vào lĩnh vực này.

Thứ ba, đối với chính sách đất đai và hạ tầng tại điều 5 cũng cần cụ thể và đột phá hơn. Cần quy định rõ tỷ lệ quỹ đất dành cho không gian sáng tạo và cho thuê dài hạn đối với... với chi phí ưu đãi. Đồng thời thí điểm các đặc khu sáng tạo văn hóa tại các đô thị lớn và địa phương có bề dày văn hóa như Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế hay là Bắc Ninh.

Nghị quyết cần bổ sung thêm cơ chế thử nghiệm chính sách (Sandbox), xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển văn hóa quốc gia gắn trách nhiệm với người đứng đầu và tăng quyền chủ động cho địa phương trong ban hành chính sách ưu đãi đặc thù về văn hóa.

"Để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, chúng ta cần chuyển đổi tư duy mạnh mẽ từ bảo tồn tĩnh sang động, từ hỗ trợ sang đầu tư chiến lược, từ khuyến khích sang tạo động lực thị trường và từ quản lý văn hóa sang phát triển kinh tế văn hóa để bảo tồn và lan tỏa mạnh mẽ những giá trị của con người và bản sắc Việt Nam ra thế giới", đại biểu Trần Thị Vân nhấn mạnh.

Cần số hóa di sản và cần có nền tảng số quốc gia để phân phối các nội dung về văn hóa- Ảnh 2.

Các đại biểu dự phiên thảo luận sáng 22/4.

Cần định nghĩa rõ và lượng hóa cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa

Phát biểu thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Đoàn ĐBQH TP Huế nhấn mạnh, văn hóa Việt Nam là kết tinh của hàng nghìn năm lịch sử, là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời cũng là nguồn lực nội sinh đặc biệt quan trọng cho việc phát triển đất nước. Đại biểu bày tỏ ấn tượng đối với khẳng định "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" và trên tinh thần Nghị quyết 80 thì văn hóa không chỉ là nền mà còn là phải trở thành động lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia.

Tuy nhiên, theo đại biểu, thực tiễn cho thấy chúng ta vẫn chưa chuyển hóa hiệu quả tiềm năng văn hóa thành giá trị kinh tế. Bản sắc văn hóa trong nhiều sản phẩm còn mờ nhạt và hệ thống chính sách chưa theo kịp yêu cầu của thời đại số.

Tham gia góp phần hoàn thiện vào hai nội dung là phát triển công nghiệp văn hóa và bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số đại biểu Nguyễn Thị Sửu cho rằng, về cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa quy định tại điều 4, dự thảo đã bước đầu thực hiện một chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển, đó là từ làm văn hóa sang phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng dự thảo hiện nay mới dừng ở mức định hướng, chưa đủ độ chặt chẽ để hình thành một ngành kinh tế văn hóa đúng nghĩa.

Cần số hóa di sản và cần có nền tảng số quốc gia để phân phối các nội dung về văn hóa- Ảnh 3.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Đoàn ĐBQH TP Huế phát biểu.

Theo đại biểu, thực tiễn đã cho thấy, một số mô hình thí điểm tại Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội, Ninh Bình và một số nơi trên đất nước chúng ta đã hình thành nhưng sản phẩm đồ sộ chưa mang đậm bản sắc Việt Nam, còn thiên về gia công nội dung, phụ thuộc công nghệ và vốn ngoại. Điều này đặt ra một vấn đề rất đáng suy nghĩ: nếu không có thiết kế chính sách đủ mạnh, chúng ta có thể xây dựng cụm sáng tạo nhưng lại không tạo ra giá trị văn hóa Việt. Và từ đó, đại biểu đề nghị ba nội dung lớn:

Thứ nhất, cần định nghĩa rõ và lượng hóa cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa. Không chỉ dừng ở mô tả, phải có tiêu chí cụ thể như là tỷ lệ doanh nghiệp sáng tạo văn hóa, tỷ lệ sản phẩm mang yếu tố văn hóa Việt, yêu cầu về nghiên cứu đào tạo đổi mới sáng tạo. Nếu không, rất dễ xảy ra tình trạng gắn mác văn hóa cho các khu thương mại đơn thuần.

Thứ hai, cần thiết lập bộ tiêu chí đánh giá bản sắc văn hóa. Hiện nay chúng ta nói nhiều đến sáng tạo nhưng lại thiếu công cụ đo lường "tính Việt Nam" trong sáng tạo. Đại biểu đề nghị bổ sung các tiêu chí khai thác chất liệu văn hóa dân tộc, chuyển hóa sáng tạo thành sản phẩm mới và khả năng lan tỏa xây dựng thương hiệu quốc gia.

Thứ ba, cần cơ chế mạnh về sở hữu trí tuệ và kinh tế hóa tài sản văn hóa. Nếu không có cơ chế bảo hộ, cơ chế định giá và cơ chế khai thác thương mại thì công nghiệp văn hóa sẽ không thể phát triển bền vững.

Liên hệ với thực tiễn phát triển tại Thành phố Huế, đại biểu cho biết, sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ năm 2025, Huế đã chọn con đường phát triển dựa trên nền tảng di sản và bản sắc văn hóa đặc sắc. Huế có lợi thế rất rõ là di sản cung đình, không gian văn hóa truyền thống và thương hiệu văn hóa đã được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, Huế vẫn đang đối mặt với thách thức đó là làm thế nào để chuyển di sản thành công nghiệp văn hóa có giá trị gia tăng cao.

Trong khi đó, Đồng Nai - một địa phương công nghiệp năng động, lại có lợi thế khác: hạ tầng, nguồn lực đầu tư, khả năng kết nối vùng và thị trường. Nếu được trao cơ chế phù hợp, Đồng Nai hoàn toàn có thể đi theo hướng là phát triển công nghiệp văn hóa gắn với công nghệ thị trường và chuỗi giá trị hiện đại. Từ so sánh này có thể thấy Huế mạnh về chiều sâu văn hóa, Đồng Nai mạnh về năng lực triển khai về thị trường. Chính vì vậy, nghị quyết cần thiết kế chính sách đủ linh hoạt để mỗi địa phương có thể phát huy lợi thế riêng nhưng vẫn đóng vào một chiến lược, đóng góp vào một chiến lược văn hóa quốc gia thống nhất.

Về bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số tại điều 6, đại biểu đề xuất xem xét bổ sung hoàn thiện vào dự thảo nghị quyết nội dung về kinh tế hóa di sản văn hóa, có chính sách đặc thù riêng cho nghệ nhân, đào tạo thế hệ kế cận và thiết lập cơ chế đánh giá hiệu quả. 

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
icon Xem theo ngày

Cổng thông tin điện tử các đơn vị thuộc Bộ

Doanh nghiệp

Top