Từ đầu tư manh mún đến hình thành hạ tầng nền tảng
Việc phát triển hạ tầng chiến lược cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST&CĐS) đang được đặt vào vị trí trung tâm trong các quyết sách phát triển. Đây không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật, mà là điều kiện quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ của quốc gia.
Theo kết luận tại Thông báo số 20-TB/CQTTBCĐ, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún; chuyển mạnh sang tập trung nguồn lực để hình thành các hạ tầng nền tảng có khả năng phục vụ đa ngành, liên vùng.
Thực tiễn cho thấy, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là sự thiếu đồng bộ và liên thông giữa các hệ thống hạ tầng. Ví dụ, dù đã hình thành các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo hiểm, doanh nghiệp, nhưng việc kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống vẫn còn hạn chế. Không ít trường hợp người dân vẫn phải cung cấp lại thông tin đã có trong hệ thống, cho thấy hạ tầng dữ liệu chưa được khai thác hiệu quả.
Ở chiều ngược lại, những mô hình được triển khai theo hướng tập trung đã mang lại kết quả rõ rệt. Cổng dịch vụ công quốc gia sau khi đi vào vận hành đã tích hợp hàng nghìn thủ tục hành chính, giúp tiết kiệm chi phí xã hội hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm. Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) cũng bước đầu kết nối hàng trăm hệ thống thông tin, tạo nền tảng cho việc liên thông dữ liệu.
Trong lĩnh vực đô thị, nhiều địa phương như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng đã triển khai trung tâm điều hành thông minh (IOC), cho phép tích hợp dữ liệu từ giao thông, y tế, giáo dục… phục vụ công tác quản lý và điều hành. Tuy nhiên, quy mô và mức độ kết nối vẫn chưa đồng đều, đòi hỏi một cách tiếp cận thống nhất ở cấp quốc gia.
Những ví dụ này cho thấy, khi hạ tầng được xây dựng theo hướng dùng chung, hiệu quả mang lại là rõ rệt; ngược lại, nếu tiếp tục đầu tư theo cách riêng lẻ, sẽ khó tạo ra giá trị tổng thể.
Trong giai đoạn tới, hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu quốc gia tiếp tục được xác định là trụ cột. Dữ liệu phải được coi là tài nguyên quan trọng, được quản trị thống nhất, khai thác hiệu quả phục vụ điều hành và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong môi trường số.

Chuyển mạnh từ đầu tư phân tán sang tập trung. Ảnh minh họa.
Gắn hạ tầng với làm chủ công nghệ và tạo sản phẩm cụ thể
Cùng với hạ tầng số, yêu cầu đặt ra là phát triển đồng bộ hạ tầng nghiên cứu và phát triển (R&D), gắn trực tiếp với mục tiêu làm chủ công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, không ít kết quả nghiên cứu trong nước dừng lại ở cấp độ đề tài, chưa đi vào sản xuất do thiếu cầu nối giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Các khu công nghệ cao như Hòa Lạc, TP.HCM hay Đà Nẵng đã hình thành, song việc khai thác hiệu quả, tạo ra các sản phẩm công nghệ có sức cạnh tranh vẫn còn hạn chế.
Trong khi đó, những lĩnh vực công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch đang đòi hỏi hệ thống hạ tầng nghiên cứu hiện đại, đồng bộ. Ví dụ, để tham gia chuỗi giá trị ngành bán dẫn, ngoài nguồn nhân lực, Việt Nam cần có các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế, hệ thống kiểm thử, thiết kế vi mạch… Nếu thiếu các hạ tầng này, việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu sẽ gặp nhiều rào cản.
Tương tự, trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, việc thiếu hạ tầng thử nghiệm, đánh giá và dịch vụ kỹ thuật trong nước sẽ khiến chi phí đầu tư cao, phụ thuộc vào đối tác nước ngoài.
Do đó, việc xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm đổi mới sáng tạo không chỉ nhằm phục vụ nghiên cứu mà phải trở thành "bệ đỡ" để đưa công nghệ ra thị trường. Mỗi khoản đầu tư cần hướng tới sản phẩm cụ thể, có khả năng thương mại hóa.
Bên cạnh đó, việc hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của Nhà nước – doanh nghiệp – viện, trường là yếu tố then chốt. Thực tế cho thấy, các dự án công nghệ có sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ đầu thường có khả năng ứng dụng cao hơn, rút ngắn thời gian từ nghiên cứu đến sản phẩm.
Để triển khai hiệu quả, các Bộ, ngành, địa phương cần cụ thể hóa các định hướng thành chương trình hành động; phân công rõ trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu; đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, chính sách và nguồn lực.

Hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu quốc gia là động lực tăng trưởng chủ yếu trong giai đoạn mới. Ảnh minh họa.
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc phát triển đồng bộ hạ tầng chiến lược không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là điều kiện quyết định để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế.

