Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Chủ động nguồn thức ăn cho chăn nuôi ở vùng cao A Lưới

Từ nguồn rơm sau thu hoạch, việc ứng dụng máy móc, chế phẩm vi sinh cùng kỹ thuật chế biến, phối trộn thức ăn đã giúp người chăn nuôi ở khu vực A Lưới, thành phố Huế tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, chủ động thức ăn cho đàn bò và nâng hiệu quả vỗ béo. Mô hình cho thấy khoa học và công nghệ (KH&CN) đang được đưa vào những khâu cụ thể của sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và sinh kế cho người dân vùng miền núi.

Chăn nuôi trâu, bò là một trong những hoạt động sản xuất gắn với đời sống của người dân A Lưới. Tuy nhiên, nguồn thức ăn còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, trong khi vào một số thời điểm trong năm, thức ăn xanh khan hiếm, ảnh hưởng đến khả năng phát triển đàn gia súc và hiệu quả chăn nuôi.

Trong khi đó, sản xuất lúa hằng năm tạo ra một lượng lớn rơm. Đây là nguồn nguyên liệu sẵn có có thể khai thác để phục vụ chăn nuôi tại chỗ, thay vì chỉ sử dụng ở dạng thô hoặc đốt bỏ trên đồng ruộng.

Rơm khô có ưu điểm dễ thu gom, bảo quản và dự trữ, nhưng giá trị dinh dưỡng và khả năng tiêu hóa còn hạn chế. Bài toán vì thế không chỉ là tận dụng rơm, mà quan trọng hơn là ứng dụng kỹ thuật để xử lý, chế biến và phối trộn với những nguyên liệu khác, tạo nguồn thức ăn phù hợp hơn cho đàn gia súc.

Từ thực tế đó, Trung tâm Khuyến nông thành phố Huế triển khai mô hình chế biến rơm làm thức ăn chăn nuôi, vỗ béo bò tại A Lưới. Việc đưa cơ giới hóa, thiết bị chế biến và kỹ thuật phối trộn vào sản xuất đã từng bước kết nối các khâu thu gom, dự trữ, xử lý phụ phẩm và tạo nguồn thức ăn cho đàn bò.

Tạo nguồn thức ăn mới từ rơm sau thu hoạch

Hộ ông Nguyễn Văn Trường tại thị trấn A Lưới trước đây, nay thuộc xã A Lưới 2, thành phố Huế, là một trong những hộ tham gia mô hình.

Gia đình ông Trường chăn nuôi hàng chục con bò theo hình thức gia trại, chủ yếu nuôi nhốt. Khi quy mô đàn tăng, lượng thức ăn cần cho đàn bò ngày càng lớn, trong khi nguồn thức ăn xanh và thức ăn thô tại chỗ khó đáp ứng nếu tiếp tục mở rộng chăn nuôi.

Giải pháp được lựa chọn là tận dụng rơm sau thu hoạch, kết hợp với cỏ voi và các nguyên liệu như thức ăn tinh hỗn hợp, cám, bắp, bột sắn, thân chuối, rỉ mật, muối… tùy điều kiện thực tế.

Thay vì đưa rơm nguyên vào máng ăn, rơm được xử lý, cắt ngắn và phối trộn bằng máy với các nguyên liệu khác. Quá trình chế biến làm rơm ngắn, mềm hơn; hỗn hợp sau phối trộn phù hợp hơn với vật nuôi, giúp bò ăn và tiêu hóa tốt hơn.

Điểm đáng chú ý là các thiết bị được kết nối theo từng công đoạn của quá trình sản xuất. Máy cuộn rơm hỗ trợ thu gom, vận chuyển và dự trữ nguyên liệu; máy xay xử lý kích thước; máy trộn thức ăn hỗn hợp TMR giúp phối trộn rơm với bã bia, bã sắn, rỉ mật, cám và các nguyên liệu bổ sung để tạo khẩu phần thức ăn cho bò.

Chủ động nguồn thức ăn cho chăn nuôi ở vùng cao A Lưới - Ảnh 1.

Vỗ béo đàn bò bằng rơm đã qua chế biến.

Cùng với máy móc, việc sử dụng chế phẩm vi sinh và kỹ thuật xử lý, phối trộn giúp thay đổi cách sử dụng nguồn phụ phẩm. Từ chỗ chủ yếu dùng rơm ở dạng thô, người chăn nuôi có thể đưa rơm vào quá trình chế biến để tạo nguồn thức ăn phù hợp hơn, đồng thời thuận lợi cho dự trữ khi thức ăn xanh khan hiếm.

Hàm lượng KH&CN của mô hình vì thế được thể hiện trong cả chuỗi từ thu gom, xử lý nguyên liệu đến phối trộn và sử dụng thức ăn. Đây cũng là cách đưa tiến bộ kỹ thuật vào đúng khâu đang là điểm nghẽn đối với các hộ nuôi bò nhốt chuồng: bảo đảm nguồn thức ăn ổn định.

Giám đốc Trung tâm Khuyến nông thành phố Huế Châu Ngọc Phi cho biết, khi triển khai mô hình tại A Lưới, Nhà nước hỗ trợ 70% kinh phí mua rơm cuộn làm thức ăn, thức ăn tinh và thuốc thú y; hỗ trợ 50% rơm làm đệm lót. Hộ tham gia đối ứng bò giống, máy móc chế biến rơm, chế phẩm vi sinh, các loại nguyên liệu thức ăn khác cùng phần kinh phí còn lại.

Chủ động nguồn thức ăn cho chăn nuôi ở vùng cao A Lưới - Ảnh 2.

Với ông Nguyễn Văn Trường, thay đổi rõ nhất là bài toán thức ăn cho đàn bò từng bước được giải quyết.

Cách thức hỗ trợ này tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham gia đầu tư và tiếp nhận kỹ thuật. Máy móc, vật tư không chỉ được đưa đến hộ để trình diễn; người chăn nuôi trực tiếp vận hành thiết bị, xử lý nguyên liệu và tổ chức nguồn thức ăn phù hợp với điều kiện sản xuất của gia đình.

Với ông Nguyễn Văn Trường, thay đổi rõ nhất là bài toán thức ăn cho đàn bò từng bước được giải quyết. Sau khi áp dụng kỹ thuật chế biến rơm, ông Trường cho biết: "Mấy chục con bò của gia đình tôi không chỉ đảm bảo nguồn thức ăn mà còn chóng lớn".

Việc chế biến rơm tại trang trại của ông Trường tiếp tục được duy trì sau giai đoạn triển khai mô hình. Đây là yếu tố có ý nghĩa đối với khả năng nhân rộng, bởi kỹ thuật đã được người chăn nuôi tiếp nhận và đưa vào hoạt động sản xuất của hộ, thay vì chỉ dừng lại ở mô hình trình diễn.

Ở phạm vi rộng hơn, cơ giới hóa và chế biến rơm đang tạo ra sự thay đổi trong cách tổ chức nguồn thức ăn chăn nuôi tại Huế. Máy cuộn rơm giúp thu gom nhanh sau thu hoạch, giảm nhân công, thuận lợi cho vận chuyển và dự trữ. Sau khâu thu gom, máy xay và máy trộn TMR tiếp tục đưa rơm vào quá trình chế biến, phối trộn với các nguồn nguyên liệu khác.

Nhờ đó, một chuỗi kỹ thuật từ thu gom, dự trữ đến xử lý, phối trộn và sử dụng được hình thành. Rơm không còn đơn thuần là nguồn thức ăn thô bổ sung khi thiếu cỏ mà trở thành một thành phần trong nguồn thức ăn phục vụ chăn nuôi bò nhốt chuồng.

Công nghệ tạo hiệu quả từ nguồn nguyên liệu sẵn có

Hiệu quả của giải pháp trước hết được thể hiện qua khả năng tăng trọng của đàn bò và kết quả kinh tế đối với người chăn nuôi. Kết quả hạch toán tại mô hình của ông Nguyễn Văn Trường cho thấy, sau 90 ngày vỗ béo, lợi nhuận bình quân đạt hơn 2,1 triệu đồng/con; tổng lợi nhuận gần 64 triệu đồng. Đây là kết quả tại thời điểm đánh giá mô hình, cho thấy khả năng tạo thêm giá trị kinh tế khi nguồn rơm được chế biến và đưa vào khẩu phần thức ăn.

Ở các mô hình sử dụng máy xay, máy trộn TMR để chế biến rơm và phụ phẩm, bò vỗ béo đạt mức tăng trọng bình quân khoảng 1,1 kg/con/ngày. Với quy mô 30 con trong một chu kỳ ba tháng, kết quả hạch toán ghi nhận lợi nhuận khoảng 53-64 triệu đồng.

Hiệu quả kinh tế không chỉ đến từ khả năng tăng trọng của vật nuôi. Cơ giới hóa khâu thu gom rơm còn giúp tiết kiệm khoảng 250.000-300.000 đồng/ha so với thu gom thủ công, đồng thời tạo điều kiện dự trữ nguyên liệu phục vụ đàn bò quanh năm.

Chủ động nguồn thức ăn cho chăn nuôi ở vùng cao A Lưới - Ảnh 3.

Việc tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn đã giúp người chăn nuôi vùng cao A Lưới chủ động phát triển chăn nuôi theo hướng tuần hoàn, bền vững.

Thành phố Huế có khoảng 54.500 ha lúa gieo cấy mỗi năm, tạo ra hơn 300.000 tấn rơm rạ. Quy mô nguồn phụ phẩm này cho thấy dư địa lớn để ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ chế biến, biến một phần nguyên liệu sau thu hoạch thành nguồn đầu vào cho chăn nuôi.

Thực tế tại một số cơ sở cho thấy, bò có thể được nuôi nhốt bằng khẩu phần sử dụng rơm đã qua chế biến mà không phải mở rộng tương ứng diện tích trồng cỏ. Việc tổ chức lại nguồn thức ăn từ phụ phẩm còn tạo điều kiện tăng quy mô đàn mà không phải tăng tương ứng diện tích đồng cỏ và nhân công.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với khu vực miền núi A Lưới. Khi nguồn cỏ tự nhiên phụ thuộc vào mùa vụ và thời tiết, rơm sau thu hoạch nếu được thu gom, dự trữ và chế biến phù hợp sẽ trở thành nguồn nguyên liệu có thể chủ động ngay tại địa phương.

Việc ứng dụng giải pháp này cũng đã vượt ra khỏi phạm vi một mô hình riêng lẻ. Toàn thành phố Huế có hơn 150 máy cuộn rơm và 5 hệ thống chế biến thức ăn; trong đó có những hộ thực hiện tương đối đồng bộ từ thu gom nguyên liệu đến chế biến phục vụ chăn nuôi.

Những con số này cho thấy cơ giới hóa và chế biến phụ phẩm đang từng bước đi vào thực tế sản xuất. Khi khâu thu gom được giải quyết bằng máy móc và rơm tiếp tục được xử lý bằng thiết bị chế biến, người chăn nuôi có điều kiện hình thành nguồn thức ăn dự trữ ổn định hơn thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào đồng cỏ và thời tiết.

Không dừng lại ở việc giải quyết nguồn thức ăn, cách làm này còn tạo sự kết nối giữa trồng trọt và chăn nuôi. Rơm sau thu hoạch được thu gom, chế biến thành thức ăn; chất thải chăn nuôi sau xử lý có thể trở thành nguồn phân hữu cơ phục vụ trồng trọt. Phụ phẩm của quá trình sản xuất này trở thành đầu vào của quá trình sản xuất khác, tạo thêm giá trị trên cùng nguồn tài nguyên nông nghiệp.

Theo đó, giá trị của mô hình nằm ở việc lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân. Cơ giới hóa giải quyết khâu thu gom lượng rơm lớn; thiết bị xay, trộn giúp xử lý nguyên liệu; ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong việc phối trộn kết hợp rơm với các nguồn thức ăn khác để tạo khẩu phần phù hợp hơn cho vật nuôi. Từng giải pháp riêng lẻ không quá phức tạp, nhưng khi được kết nối thành chuỗi đã tạo ra thay đổi trong cách tổ chức sản xuất.

Quan trọng hơn, người dân là chủ thể trực tiếp vận hành và duy trì kỹ thuật. Khi thiết bị, nguyên liệu và quy trình có thể được tổ chức ngay tại hộ chăn nuôi, việc ứng dụng KH&CN có điều kiện trở thành một phần của hoạt động sản xuất thường xuyên.

Từ những cuộn rơm sau vụ lúa, một chuỗi kỹ thuật từ thu gom, dự trữ đến chế biến, phối trộn thức ăn đang được hình thành. Việc tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có bằng những giải pháp KH&CN phù hợp không chỉ giúp người chăn nuôi vùng cao A Lưới chủ động hơn về nguồn thức ăn chăn nuôi, mà còn mở thêm khả năng nâng hiệu quả sản xuất, giảm lãng phí phụ phẩm và phát triển chăn nuôi theo hướng tuần hoàn, bền vững.

Trung tâm Truyền thông KH&CN (tổng hợp)
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm