Bỏ qua đến nội dung chính

Công nghệ chiến lược định hình chuỗi giá trị, thúc đẩy tăng trưởng dài hạn

Thứ ba, 28/04/2026 14:40

Phát triển công nghệ chiến lược không còn là câu chuyện lựa chọn xu hướng, mà là bài toán gắn chặt với nhu cầu của nền kinh tế và các ngành công nghiệp trụ cột. Khi được định vị đúng và đầu tư đủ, công nghệ chiến lược đang dần trở thành “đòn bẩy” nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng không gian tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam.

Xác lập trục công nghệ chiến lược: Gắn với thực tiễn, hướng tới tự chủ

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược và 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược; đồng thời, lựa chọn 6 sản phẩm ưu tiên để tập trung triển khai trước, kèm theo lộ trình cụ thể cho từng lĩnh vực.

img

Làm chủ công nghệ lõi chiến lược, thiết kế và sản xuất chip bảo mật "Make in VietNam".

Điểm cốt lõi trong cách tiếp cận lần này là chuyển từ tư duy "chạy theo công nghệ" sang "lựa chọn công nghệ theo nhu cầu phát triển". Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển KHCN,ĐMST&CĐS, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu đặt công nghệ chiến lược trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, gắn với lợi ích dài hạn và nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế.

Theo đó, công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi gắn với các chuỗi ngành công nghiệp trụ cột mà Việt Nam có nhu cầu lớn, tiềm năng phát triển cao và khả năng hình thành thị trường cho sản phẩm công nghệ. Cách tiếp cận này không chỉ giải quyết các "điểm nghẽn" trước mắt mà còn tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh dài hạn.

Một trong những điểm nhấn quan trọng là yêu cầu doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái công nghệ. Các cơ chế, chính sách cần được thiết kế theo hướng khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào KHCN,ĐMST&CĐS, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, tạo môi trường thể chế thuận lợi, đặt hàng nghiên cứu, hỗ trợ phát triển, thương mại hóa sản phẩm và mở rộng thị trường. Nguồn lực cần được tập trung vào một số lĩnh vực thật sự trọng điểm, lựa chọn đúng công nghệ có ý nghĩa chiến lược và đầu tư đủ lớn, đủ dài để tạo ra đột phá.

Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân, việc xây dựng và triển khai danh mục công nghệ, sản phẩm chiến lược nhằm cụ thể hóa chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cũng như Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ và Luật Công nghệ cao (sửa đổi) năm 2025.

Danh mục công nghệ chiến lược được xác định dựa trên ba trụ cột: Nhu cầu phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lợi thế và tiềm năng của từng ngành, lĩnh vực; khả năng hình thành thị trường và chuỗi giá trị.

Trên cơ sở đó, hệ thống công nghệ chiến lược được chia thành hai nhóm chính.

Nhóm thứ nhất là nhóm công nghệ, sản phẩm đã có thị trường, tác động trực tiếp đến các ngành kinh tế chủ lực như nông lâm thủy sản, công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, xây dựng, thép, năng lượng. Đây là nhóm có thể nhanh chóng tạo ra giá trị gia tăng và nâng cao năng suất.

Nhóm thứ hai là nhóm công nghệ nền tảng, tạo động lực tăng trưởng mới và bảo đảm tự chủ trong các lĩnh vực trọng yếu như quốc phòng, an ninh. Nhóm này bao gồm các công nghệ như lượng tử, tên lửa, lò phản ứng hạt nhân quy mô nhỏ, công nghệ không gian tầm thấp, vệ tinh nhỏ và thiết bị bay không người lái (UAV).

Thực tiễn triển khai cho thấy, Quyết định số 1131/QĐ-TTg đã bước đầu tạo dựng khung pháp lý và định hướng phát triển tương đối đồng bộ. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch đến năm 2030, 2035, cụ thể hóa thành các chương trình và nhiệm vụ trọng điểm.

Nguồn lực dành cho KH&CN tiếp tục được tăng cường với quy mô đầu tư lớn. Một số kết quả đáng chú ý gồm việc phát triển các hệ thống trợ lý ảo chuyên ngành, xây dựng bản đồ số vùng nguyên liệu và triển khai truy xuất nguồn gốc nông sản dựa trên công nghệ chuỗi khối (blockchain).

img

Thúc đẩy ứng dụng Blockchain và AI trong minh bạch và nâng cao giá trị nông sản.

Về năng lực làm chủ công nghệ, các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu đã hình thành một số trung tâm nghiên cứu trong các lĩnh vực then chốt như AI, bán dẫn và năng lượng mới. Tỷ lệ nội địa hóa trong một số sản phẩm đạt kết quả tích cực; riêng lĩnh vực chế tạo, tỷ lệ này đạt khoảng 50% đối với robot công nghiệp và gần 80% đối với các hệ thống thị giác máy và trí tuệ nhân tạo.

Khu vực doanh nghiệp cũng ghi nhận những bước tiến quan trọng khi từng bước làm chủ công nghệ lõi và phát triển sản phẩm chiến lược. Nhiều doanh nghiệp đã đạt tỷ lệ nội địa hóa trên 50% đối với hệ thống camera AI và giám sát thông minh; làm chủ phần lớn công nghệ lõi mạng 5G; phát triển robot tự hành phục vụ logistics và sản xuất; từng bước làm chủ công nghệ thiết bị bay không người lái với tỷ lệ khoảng 70%.

Bên cạnh đó, các công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên và hạ tầng số cũng đang được doanh nghiệp trong nước từng bước làm chủ, góp phần thu hẹp khoảng cách công nghệ với các quốc gia phát triển.

Khơi thông cơ chế, hoàn thiện hệ sinh thái cho công nghệ chiến lược

Dù đạt được những kết quả ban đầu, hệ sinh thái công nghệ chiến lược vẫn đối mặt với không ít thách thức. Sự phân tán trong tổ chức, thiếu mô hình điều phối thống nhất ở tầm quốc gia, cùng với những hạn chế về cơ chế tài chính, nguồn nhân lực và hạ tầng nghiên cứu đang là những "nút thắt" cần sớm tháo gỡ.

Hiện Bộ KH&CN đang lấy ý kiến cho dự thảo danh mục công nghệ chiến lược được ưu tiên đầu tư phát triển, trong đó tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi như bán dẫn, AI và năng lượng mới…

Về nhân lực, Bộ đã ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia phát triển đội ngũ trí thức đến năm 2030, tập trung xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, liên ngành và kết nối chuyên gia quốc tế, trí thức Việt kiều tham gia đào tạo, chuyển giao công nghệ.

Về thu hút đầu tư, nhiều chính sách mới được ban hành nhằm khuyến khích phát triển công nghiệp bán dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu thiết bị phục vụ đào tạo, nghiên cứu, đóng gói và kiểm thử chip.

Đối với hệ sinh thái AI, Luật AI và các nghị định hướng dẫn đang được xây dựng với các cơ chế như sandbox cho AI, cụm liên kết giữa doanh nghiệp - trường - viện, cùng các chương trình hỗ trợ như AI Voucher giúp doanh nghiệp khởi nghiệp và tổ chức nghiên cứu tiếp cận hạ tầng tính toán, dữ liệu dùng chung và mô hình ngôn ngữ lớn.

img

Cơ chế sandbox sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và nhà nghiên cứu thử nghiệm các mô hình AI mới.

Khẳng định vai trò then chốt của công nghệ chiến lược trong giai đoạn phát triển mới, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh: Đây là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội. Việc điều chỉnh danh mục phải bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, tránh dàn trải, lãng phí. Việc xây dựng danh mục cần bám sát ba tiêu chí cốt lõi: Đáp ứng nhu cầu thị trường, phát huy lợi thế quốc gia và hình thành chuỗi giá trị.

Cùng với đó, các Bộ KH&CN, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp hoàn thiện cơ chế tài chính, đồng thời đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển công nghệ chiến lược; Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao nghiên cứu, đề xuất các chính sách đặc thù nhằm khuyến khích đào tạo trong lĩnh vực này; Bộ Công Thương chủ trì tích hợp các nội dung liên quan vào quá trình sửa đổi Luật Công nghiệp trọng điểm.

Phát triển công nghệ chiến lược chỉ thực sự hiệu quả khi được triển khai trên nền tảng lựa chọn đúng, đầu tư đủ và tổ chức thực hiện quyết liệt. Khi gắn chặt với các ngành công nghiệp trụ cột và nhu cầu của nền kinh tế, công nghệ chiến lược sẽ trở thành động lực quan trọng, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới. Trong giai đoạn phát triển mới, đây chính là chìa khóa để Việt Nam nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, dựa trên nền tảng KHCN,ĐMST&CĐS.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
icon Xem theo ngày

Cổng thông tin điện tử các đơn vị thuộc Bộ

Doanh nghiệp

Top