Là trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực trung du miền núi phía Bắc, Thái Nguyên không chỉ là địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp và giáo dục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước mà còn là nơi sinh sống của hơn 50 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 30% dân số.
Thực hiện Chương trình 1719, Thái Nguyên đã tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo nghề, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc.
Theo báo cáo của UBND tỉnh, giai đoạn 2021-2025, hàng nghìn tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương và địa phương đã được huy động để triển khai 10 dự án thành phần của Chương trình, góp phần cải thiện điều kiện sống, giảm nghèo và tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện Võ Nhai, Định Hóa, Đồng Hỷ, Phú Lương và Đại Từ.
Đến năm 2026, nhiều chỉ tiêu quan trọng của Chương trình đã đạt kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục giảm, hạ tầng giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học và trạm y tế được đầu tư đồng bộ hơn; các thiết chế văn hóa cơ sở từng bước được hoàn thiện.
Đặc biệt, việc lồng ghép Chương trình 1719 với Chương trình xây dựng nông thôn mới và các chương trình phát triển kinh tế của tỉnh đã tạo hiệu quả cộng hưởng, giúp nhiều xã vùng cao từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với khu vực trung tâm.
Điểm khác biệt của Thái Nguyên so với nhiều địa phương miền núi khác là việc đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực xuyên suốt trong quá trình triển khai Chương trình. Với lợi thế là trung tâm đào tạo lớn của cả nước, nơi có Đại học Thái Nguyên cùng nhiều viện nghiên cứu, tỉnh đã đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tiêu biểu là vùng chè Thái Nguyên - sản phẩm đã trở thành thương hiệu quốc gia. Nhiều hợp tác xã tại Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Phúc Thuận và các vùng chè của huyện Đồng Hỷ, Đại Từ đã áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm, cơ giới hóa khâu chế biến, đồng thời ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và xây dựng nhật ký điện tử trong sản xuất. Nhờ đó, chất lượng chè ngày càng được nâng cao, mở rộng thị trường xuất khẩu và gia tăng giá trị cho người sản xuất.
Song song với phát triển nông nghiệp, chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong phương thức tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Hàng trăm sản phẩm OCOP của tỉnh đã được số hóa thông tin, kết nối với các sàn thương mại điện tử và hệ thống phân phối hiện đại. Nhiều hợp tác xã do đồng bào dân tộc thiểu số tham gia quản lý đã khai thác hiệu quả mạng xã hội, nền tảng số và các ứng dụng thương mại điện tử để quảng bá, bán hàng trực tuyến, góp phần mở rộng thị trường và nâng cao thu nhập.
Không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, chuyển đổi số còn góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thái Nguyên là một trong những địa phương đi đầu cả nước trong xây dựng chính quyền số và xã hội số.
Đến năm 2026, 100% cơ quan hành chính của tỉnh đã sử dụng hệ thống quản lý văn bản điện tử, dịch vụ công trực tuyến được triển khai đồng bộ, tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục tăng cao. Người dân vùng sâu, vùng xa từng bước tiếp cận các dịch vụ công, giáo dục và y tế thông qua nền tảng số, góp phần giảm chi phí đi lại và nâng cao chất lượng phục vụ.
Trong lĩnh vực giáo dục, nhiều trường học tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, kết nối Internet băng rộng, trang bị phòng học thông minh và thiết bị dạy học số. Các chương trình đào tạo kỹ năng số, phổ cập công nghệ thông tin và hướng dẫn sử dụng dịch vụ số được triển khai rộng khắp, giúp học sinh và người dân nâng cao năng lực tiếp cận tri thức, từng bước thu hẹp khoảng cách số giữa miền núi và đô thị.
Cùng với đó, hoạt động đổi mới sáng tạo ngày càng lan tỏa mạnh mẽ. Thái Nguyên tiếp tục phát huy vai trò là trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ của vùng trung du và miền núi phía Bắc thông qua mạng lưới các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp khoa học công nghệ. Nhiều đề tài nghiên cứu đã được ứng dụng trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế tuần hoàn, tạo giá trị gia tăng cho các sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Theo định hướng giai đoạn 2026-2030, Thái Nguyên tiếp tục triển khai Chương trình 1719 theo hướng lấy người dân làm trung tâm, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển. Tỉnh đặt mục tiêu đẩy mạnh phát triển kinh tế số nông nghiệp, mở rộng các mô hình sản xuất thông minh, hoàn thiện cơ sở dữ liệu vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao kỹ năng số cho người dân và thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
Thực tiễn triển khai Chương trình 1719 tại Thái Nguyên cho thấy, khi các chính sách dân tộc được kết hợp với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hiệu quả mang lại không chỉ dừng ở việc cải thiện hạ tầng hay giảm nghèo, mà còn tạo ra động lực phát triển mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây chính là nền tảng để Thái Nguyên tiếp tục phát huy vai trò là cực tăng trưởng của vùng trung du và miền núi phía Bắc, đồng thời xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng phát triển, văn minh và bền vững trong kỷ nguyên số.