UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045. Kế hoạch nhằm cụ thể hóa Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời gắn định hướng phát triển công nghiệp sinh học với điều kiện và lợi thế sản xuất của địa phương.
Theo kế hoạch, Hà Tĩnh xác định đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học là một trong những giải pháp góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp; bảo đảm an toàn sinh học, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tỉnh sẽ tập trung tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng các công nghệ phù hợp, ưu tiên những lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế như lúa, cây ăn quả có múi, hươu sao, chăn nuôi lợn, bò, tôm, giống cây lâm nghiệp, sản phẩm hữu cơ và các chế phẩm sinh học xử lý phụ phẩm, chất thải. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng được định hướng gắn với sản xuất, doanh nghiệp và nhu cầu thị trường.
Thay vì ứng dụng riêng lẻ ở từng công đoạn, Hà Tĩnh hướng tới đưa công nghệ sinh học tham gia sâu hơn vào chuỗi từ bảo tồn nguồn gen, tạo giống, sản xuất, phòng trừ dịch bệnh đến bảo quản, chế biến và xử lý chất thải.
Phát huy nguồn gen, đưa giải pháp sinh học vào sản xuất
Trong giai đoạn 2026-2030, Hà Tĩnh tiếp tục bảo tồn, khai thác và nâng cao chất lượng nguồn gen, vật liệu giống cây trồng, vật nuôi đặc sản. Trong đó, tỉnh ưu tiên bưởi Phúc Trạch, cam Bù, cam Giòn Thượng Lộc, hồng Yên Du, các giống cây bản địa, hươu sao và một số vật nuôi có giá trị kinh tế, thích ứng với điều kiện địa phương.
Trong trồng trọt, bảo vệ thực vật và lâm nghiệp, công nghệ nhân giống vô tính, nuôi cấy mô sẽ được ứng dụng đối với cam, bưởi, hồng, keo và một số cây trồng khác, phục vụ bảo tồn, phục tráng nguồn gen, nhân nhanh giống cây bản địa và nâng cao chất lượng vật liệu giống.

Tỉnh ưu tiên bưởi Phúc Trạch, cam Bù, cam Giòn Thượng Lộc, hồng Yên Du, các giống cây bản địa...
Cùng với khâu giống, Hà Tĩnh đẩy mạnh sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, chế phẩm và các giải pháp vi sinh trong sản xuất; tăng cường xử lý phụ phẩm, chất thải nông nghiệp theo hướng tuần hoàn, giảm phát thải. Các chế phẩm sinh học thế hệ mới, bẫy và chất dẫn dụ sinh học cũng được khuyến khích sử dụng nhằm nâng cao sức khỏe đất, chất lượng nông sản và hạn chế tác động đến môi trường.
Một mục tiêu đáng chú ý là trong giai đoạn 2026-2030, Hà Tĩnh phấn đấu thu hút từ 1-3 doanh nghiệp đầu tư sản xuất quy mô công nghiệp các sản phẩm công nghệ sinh học như giống cây trồng, phân bón vi sinh, chế phẩm vi sinh xử lý môi trường, màng bảo quản tươi.
Đến giai đoạn 2031-2035 và tầm nhìn năm 2045, các công nghệ, mô hình có hiệu quả sẽ được nhân rộng; từng bước hình thành chuỗi nghiên cứu - sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm ứng dụng công nghệ sinh học gắn với các sản phẩm chủ lực, đặc sản của Hà Tĩnh. Tỉnh cũng định hướng tăng số doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ sinh học, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm sinh học và từng bước thay thế sản phẩm hóa học tại những khâu có điều kiện phù hợp.
Mở rộng từ chăn nuôi, thủy sản đến bảo quản, chế biến
Trong chăn nuôi, thú y và thủy sản, tỉnh tập trung ứng dụng công nghệ sinh sản, chọn giống nhằm nâng cao chất lượng đàn bò, lợn, hươu sao và giống thủy sản; ứng dụng vắc-xin, bộ sinh phẩm chẩn đoán, enzyme, chế phẩm vi sinh trong phòng, chống dịch bệnh, hướng tới giảm sử dụng kháng sinh.
Đối với nuôi trồng thủy sản, công nghệ vi sinh, biofloc và các giải pháp sinh học sẽ được ứng dụng trong xử lý nước, bùn thải và cải thiện môi trường nuôi, hướng tới các mô hình sản xuất an toàn sinh học, tuần hoàn, giảm phát thải và hạn chế sử dụng thuốc, hóa chất.
Ở khâu bảo quản, chế biến, Hà Tĩnh định hướng ứng dụng công nghệ sinh học để kéo dài thời gian bảo quản, kiểm soát vi sinh và nâng cao chất lượng cam, bưởi, sản phẩm chăn nuôi, thủy sản. Đồng thời, tỉnh định hướng nghiên cứu các sản phẩm có giá trị gia tăng từ phụ phẩm nông nghiệp, nhung hươu, cây dược liệu và nguồn nguyên liệu bản địa.

Sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh, chế phẩm và các giải pháp vi sinh trong sản xuất theo hướng tuần hoàn, giảm phát thải.
Để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, kế hoạch đặt trọng tâm nâng cấp cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm; đào tạo cán bộ, kỹ thuật viên có khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ mới. Doanh nghiệp, hợp tác xã được hỗ trợ tiếp cận, chuyển giao công nghệ, thương mại hóa sản phẩm và tăng cường kết nối với viện nghiên cứu, trường đại học.
Nguồn lực thực hiện được huy động từ ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp, vốn ODA, tín dụng, tài trợ quốc tế và các nguồn hợp pháp khác; trong đó khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hoặc triển khai theo hình thức hợp tác công - tư.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh là cơ quan chủ trì triển khai kế hoạch, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ và các đơn vị liên quan. Với định hướng ứng dụng từ nguồn gen, giống, vi sinh đến bảo quản, chế biến và xử lý chất thải, công nghệ sinh học được kỳ vọng trở thành một trong những động lực nâng cao giá trị nông sản, thúc đẩy nông nghiệp Hà Tĩnh phát triển theo hướng sinh thái, tuần hoàn và bền vững.