Cụ thể hóa chính sách bằng những công trình thiết thực
Những ngày Tết Độc lập, trên tuyến biên giới Tây Ninh, nhịp sống ở các phum, sóc, xóm làng vẫn diễn ra bình dị. Nhưng phía sau sự bình dị ấy là những đổi thay dễ nhận thấy: đường giao thông được mở rộng, nhà cửa ngày càng khang trang, trường lớp được đầu tư, điện chiếu sáng phủ thêm nhiều tuyến đường, còn những cánh đồng lúa đã chủ động hơn về nguồn nước.
Từ vùng sản xuất nông nghiệp đến các khu dân cư biên giới, hạ tầng thiết yếu đang từng bước được hoàn thiện, góp phần thu hẹp khoảng cách về điều kiện sống giữa vùng biên với các khu vực phát triển trong tỉnh.
Diện mạo xã biên giới Tân Đông với nhà cửa ngày càng khang trang, đường sá thông thoáng, đời sống bà con dân tộc Khmer từng bước được nâng lên.
Tây Ninh có 19 xã biên giới tiếp giáp Campuchia với đường biên dài gần 369 km. Với đặc thù địa bàn rộng, dân cư phân tán, đời sống một bộ phận người dân còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp, việc đầu tư kết cấu hạ tầng được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời củng cố thế trận quốc phòng, an ninh trên tuyến biên giới.
Những năm qua, các công trình điện, đường, trường, trạm được quan tâm đầu tư. Dọc tuyến biên giới, nhiều trường học được xây dựng, sửa chữa, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của con em đồng bào. Những lớp học kiên cố không chỉ giúp học sinh có môi trường học tập an toàn mà còn tạo điều kiện để các em được tiếp cận đầy đủ hơn với giáo dục.
Với người nông dân, một trong những thay đổi có ý nghĩa trực tiếp nhất là khả năng chủ động nguồn nước phục vụ sản xuất.

Tỉnh Tây Ninh chủ động hỗ trợ người dân cải thiện cuộc sống và nâng cao khả năng tự thoát nghèo.
Hệ thống thủy lợi dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng vượt sông Vàm Cỏ Đông đã bổ sung nguồn nước cho những khu vực thường xuyên thiếu nước, góp phần giảm sự phụ thuộc vào thời tiết. Trên những cánh đồng, màu xanh của lúa thay cho cảnh chờ mưa của những mùa vụ trước. Khi nguồn nước được bảo đảm, việc bố trí mùa vụ thuận lợi hơn, năng suất và hiệu quả sản xuất cũng có thêm điều kiện để cải thiện.
Không chỉ chủ động nguồn nước, khoa học và công nghệ cũng đang từng bước được đưa vào sản xuất nông nghiệp ở vùng biên. Từ khâu làm đất, gieo sạ đến chăm sóc và thu hoạch, máy móc cơ giới ngày càng được sử dụng rộng rãi, giúp giảm sức lao động, rút ngắn thời gian sản xuất và nâng cao hiệu quả trên cùng diện tích canh tác.
Một số hộ dân cũng từng bước tiếp cận các phương thức sản xuất mới, sử dụng thiết bị và thông tin số để theo dõi thời tiết, lựa chọn thời điểm xuống giống, chăm sóc cây trồng và cập nhật giá cả, thị trường. Sự kết hợp giữa hạ tầng thủy lợi, cơ giới hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật đang tạo ra thay đổi trong phương thức sản xuất của người dân, giúp nông dân vùng biên từng bước chủ động hơn trước những biến động của thời tiết và thị trường.
Công trình dẫn nước hồ Dầu Tiếng vượt sông Vàm Cỏ Đông góp phần bảo đảm nguồn nước tưới, phục vụ sản xuất nông nghiệp tại những khu vực thường xuyên thiếu nước.
Không chỉ tập trung cho sản xuất, các công trình dân sinh cũng đang làm thay đổi sinh hoạt của người dân vùng biên. Mới đây, Sở Công Thương tỉnh Tây Ninh đã vận động đóng góp hơn 2,5 tỷ đồng để lắp đặt 1.131 bộ đèn năng lượng mặt trời và hỗ trợ 100 triệu đồng cho mỗi xã biên giới.
Hệ thống đèn năng lượng mặt trời tận dụng nguồn năng lượng tự nhiên để chiếu sáng vào ban đêm, góp phần bảo đảm an toàn giao thông, thuận tiện cho người dân đi lại, sinh hoạt và vận chuyển hàng hóa. Với địa bàn biên giới, ánh sáng trên các tuyến đường còn hỗ trợ lực lượng chức năng trong công tác tuần tra, kiểm soát, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự.
Ngồi dưới ánh đèn trước hiên nhà, ông Danh Xà Rương, ngụ ấp Thành Long, xã Ninh Điền, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc Khmer, phấn khởi chia sẻ: "Bà con vùng biên giới trước đây đi lại ban đêm rất khó khăn. Nay có ánh đèn sáng rực, người lớn tuổi yên tâm, con cháu đi học về tối cũng an toàn. Một cây đèn có thể không phải món quà lớn, nhưng rất thiết thực. Điều làm bà con vui nhất là luôn cảm nhận được sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo".
Theo ông Danh Xà Rương, khi các tuyến đường được thắp sáng, người dân càng có ý thức giữ gìn công trình, đồng thời phối hợp với lực lượng chức năng bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng cuộc sống bình yên nơi biên giới.
Những công trình tưởng như rất cụ thể ấy lại tạo ra tác động rộng hơn. Đường thuận lợi giúp lưu thông hàng hóa, thủy lợi giúp ổn định sản xuất, điện chiếu sáng giúp người dân yên tâm đi lại, trường học và các thiết chế xã hội tạo điều kiện để trẻ em học tập. Từng mắt xích trong hệ thống hạ tầng đang góp phần tạo nên những thay đổi căn bản trong đời sống vùng biên.
Hạ tầng có thể làm thay đổi diện mạo vùng đất, nhưng để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, yếu tố con người vẫn giữ vai trò quyết định.
Tại Tây Ninh, những người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số đang phát huy vai trò là cầu nối giữa chính quyền với nhân dân. Họ không chỉ tuyên truyền, vận động mà còn trực tiếp tham gia giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn dân cư.
Toàn tỉnh Tây Ninh hiện có 17 dân tộc thiểu số sinh sống với 35.589 người, chiếm 1,12% dân số.
Tại khu phố Thạnh Hiệp, phường Bình Minh, nơi có 55 hộ đồng bào dân tộc Tà Mun sinh sống, bà Lâm Thị Niệm là một trong những người được cộng đồng tin tưởng. Là người có uy tín, đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phụ nữ phường, bà Niệm thường xuyên cùng lực lượng công an, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cơ sở đến từng hộ dân để tuyên truyền, vận động.
Từ những việc cụ thể như hướng dẫn người dân thực hiện định danh điện tử, tiếp cận các dịch vụ công, đến vận động giữ gìn bản sắc văn hóa, nâng cao cảnh giác trước các hành vi vi phạm pháp luật, bà Niệm chọn cách gần dân, nghe dân và cùng người dân giải quyết từng vấn đề.
"Muốn bà con nghe theo thì trước hết bản thân và gia đình mình phải gương mẫu. Tôi thường xuyên vận động bà con đoàn kết, không để xảy ra chia rẽ nội bộ; chủ động phòng ngừa tội phạm, tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc và cùng chính quyền giải quyết những vấn đề phát sinh trong cộng đồng", bà Niệm chia sẻ.
Từ những người như bà Niệm, các chủ trương, chính sách đến với người dân bằng cách gần gũi và dễ hiểu hơn. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp chính sách dân tộc được triển khai hiệu quả ngay từ cơ sở.

Tạo sinh kế để người dân tự vươn lên
Cùng với đầu tư hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo sinh kế bền vững là hướng đi lâu dài để cải thiện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.
Tây Ninh quan tâm đến giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, định hướng việc làm và khởi nghiệp cho thanh niên dân tộc thiểu số. Toàn tỉnh hiện có 74 trường trung học phổ thông và 21 cơ sở giáo dục nghề nghiệp; trong đó có 910 học sinh dân tộc thiểu số đang học cấp ba và 23 em theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Trường Cao đẳng Sư phạm.
Định hướng không chỉ dừng ở việc giúp thanh niên có nghề mà còn hướng tới khả năng tạo dựng sinh kế ngay tại quê hương. Từ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản, phát triển sản phẩm OCOP đến nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng và thương mại - dịch vụ, những mô hình phù hợp với điều kiện địa phương đang mở thêm lựa chọn cho lao động trẻ.
Mục tiêu cuối cùng của các chính sách hỗ trợ không chỉ là nâng mức sống trước mắt mà tạo điều kiện để người dân có khả năng tự chủ về sinh kế, từng bước vươn lên bằng chính nguồn lực của gia đình và cộng đồng.
Trong quá trình đó, giáo dục cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tại Trường Tiểu học Hòa Đông, xã Phước Vinh, cô Thạch Thị Phắt Cà Đi tận tâm truyền dạy tiếng nói và chữ viết dân tộc Khmer cho học sinh.
Việc gìn giữ tiếng nói, chữ viết, phong tục và các giá trị văn hóa truyền thống không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc mà còn tạo nền tảng để thế hệ trẻ hiểu hơn về cội nguồn, đồng thời tự tin hòa nhập với đời sống hiện đại.
Cô Thạch Thị Phắt Cà Đi, giáo viên Trường Tiểu học Hòa Đông, xã Phước Vinh, tận tâm truyền dạy tiếng nói và chữ viết dân tộc Khmer cho học sinh.
Ở một góc khác của đời sống văn hóa, chùa Kà Ốt, ấp Kà Ốt, xã biên giới Tân Đông lưu giữ những đường nét kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Những công trình văn hóa, tín ngưỡng như vậy vừa là nơi sinh hoạt tinh thần của cộng đồng, vừa góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa giữa quá trình phát triển và hội nhập.

Cơ sở hạ tầng ngày càng được đẩy mạnh tại tỉnh Tây Ninh
Đưa chuyển đổi số về vùng biên
Một trong những thay đổi đáng chú ý trong đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số là sự hiện diện ngày càng rõ của công nghệ số.
Nếu trước đây khoảng cách địa lý là một trong những rào cản lớn đối với người dân vùng biên khi tiếp cận thông tin và dịch vụ hành chính, thì việc mở rộng hạ tầng viễn thông, internet đang từng bước thu hẹp khoảng cách này.
Theo số liệu của địa phương, 100% các xã đã có sóng viễn thông, internet băng rộng, mạng 3G, 4G, 5G. Cùng với đó, cán bộ, công chức cấp xã được trang bị máy tính kết nối mạng, tạo điều kiện hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục hành chính và tiếp cận dịch vụ công trực tuyến.
Từ hạ tầng viễn thông, chuyển đổi số đang từng bước đi sâu vào đời sống người dân vùng biên. Điện thoại thông minh và internet giúp bà con không chỉ liên lạc, tiếp cận thông tin mà còn mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Người dân có thể tìm hiểu thông tin về sản xuất, giá nông sản, thời tiết, chính sách hỗ trợ; thực hiện một số thủ tục hành chính trên môi trường số và kết nối với các kênh thông tin chính thống của chính quyền.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc đưa công nghệ đến gần người dân có ý nghĩa đặc biệt, bởi đây không chỉ là câu chuyện về thiết bị hay đường truyền mà còn là cơ hội thu hẹp khoảng cách tiếp cận thông tin và tri thức. Khi cán bộ cơ sở trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng các nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến và các tiện ích trên điện thoại thông minh, công nghệ dần trở thành công cụ phục vụ những nhu cầu thiết thực hằng ngày.
Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ trong quảng bá sản phẩm địa phương, sản phẩm OCOP, giới thiệu văn hóa, du lịch và các giá trị đặc trưng của cộng đồng dân tộc cũng mở thêm hướng phát triển kinh tế. Những sản phẩm được làm ra từ vùng biên có thể tiếp cận thị trường rộng hơn thông qua các nền tảng số, qua đó giúp người dân từng bước thay đổi cách sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
Chuyển đổi số vì thế không còn là câu chuyện riêng của khu vực đô thị. Từ các xã biên giới, công nghệ đang từng bước trở thành công cụ phục vụ sản xuất, giao tiếp, tiếp cận thông tin và giải quyết thủ tục hành chính.
Đây cũng là nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng đồng bộ hơn: không chỉ đầu tư đường sá, điện, nước mà còn đầu tư vào khả năng tiếp cận tri thức, thông tin và các dịch vụ số của người dân.
Những kết quả đạt được đang tạo nền tảng để Tây Ninh tiếp tục triển khai các mục tiêu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới trong giai đoạn 2026 - 2030.
Theo định hướng của tỉnh, giai đoạn 2026-2030, Tây Ninh dự kiến huy động khoảng 17.411 tỷ đồng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nguồn lực này được ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ sinh kế và cải thiện đời sống người dân, nhất là tại khu vực nông thôn, biên giới và vùng còn khó khăn.
Những con số ấy cho thấy quy mô đầu tư khá lớn, nhưng thước đo cuối cùng của chính sách vẫn là sự thay đổi trong đời sống người dân.
Một con đường mới phải giúp việc đi lại, vận chuyển nông sản thuận lợi hơn. Một công trình thủy lợi phải giúp người dân giảm rủi ro trong sản xuất. Một lớp học mới phải mở thêm cơ hội học tập cho trẻ em. Một tuyến đường được chiếu sáng phải làm cho người dân cảm thấy an toàn hơn. Và một kết nối số phải thực sự giúp người dân tiếp cận thông tin, dịch vụ công và những cơ hội phát triển mới.
Từ góc nhìn đó, câu chuyện phát triển vùng biên Tây Ninh không chỉ nằm ở những công trình được xây dựng, mà còn ở cách những công trình ấy đang thay đổi đời sống từng gia đình, từng phum, sóc, xóm làng.
Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe; hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu cho đồng bào. Tây Ninh đặt mục tiêu có thêm 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2026 - 2030, phấn đấu giảm ít nhất 20% số hộ nghèo so với đầu năm, đồng thời nâng cao thu nhập, mở rộng tỷ lệ sử dụng nước sạch và bảo hiểm y tế.
Để hiện thực hóa những mục tiêu này, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm nguồn lực mà còn phải tổ chức thực hiện hiệu quả, sâu sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn và đẩy nhanh tiến độ các dự án, chương trình.
Ở tuyến đầu Tổ quốc, mỗi bước tiến về hạ tầng, sinh kế và chất lượng cuộc sống của đồng bào đều mang một ý nghĩa đặc biệt. Khi người dân có cuộc sống ổn định, có sinh kế bền vững, con em được học hành, đường làng được thắp sáng, bản sắc văn hóa được gìn giữ và những tiện ích khoa học, công nghệ ngày càng đến gần hơn với từng hộ gia đình, vùng biên không chỉ khởi sắc về diện mạo mà còn được củng cố từ bên trong.
Từ những công trình hạ tầng thiết yếu đến ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, từ ánh sáng trên những tuyến đường đến kết nối số trong mỗi gia đình, những thay đổi đang diễn ra từng ngày góp phần mở rộng cơ hội phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là nền tảng để những phum, sóc, xóm làng nơi biên giới Tây Ninh tiếp tục vươn lên, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, văn minh và bình yên.