Hành trình xây dựng nông thôn mới trở thành điểm tựa quan trọng cho Thung Nai. Hệ thống điện, đường, nhà văn hóa, thủy lợi, viễn thông trên địa bàn xã được đầu tư đồng bộ. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia đạt 100%, và 100% các xóm có nhà văn hóa đạt chuẩn, tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một trong những xu hướng nhằm phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Hiện nay, sản xuất theo hướng này đã và đang được nhiều địa phương thực hiện.
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ có mặt ở vùng đồng bằng còn xuất hiện ở những địa bàn miền núi, nơi đồng bào dân tộc sinh sống. Việc sản xuất theo hướng này giúp nâng cao chất lượng, bảo đảm sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, gia tăng giá trị sản xuất.
Sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ hiện nay không chỉ phát triển ở những địa phương có nền nông nghiệp phát triển. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng đã được triển khai thực hiện ở những vùng có điều kiện sản xuất khó khăn như trung du và miền núi phía bắc, trong đó có những mô hình được thực hiện ở vùng sâu, xa, đồng bào dân tộc.
Thực tiễn cho thấy, với những địa bàn còn nhiều khó khăn về điều kiện sản xuất, khoa học và công nghệ có thể trở thành một trong những động lực quan trọng giúp thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Từ việc lựa chọn giống, quy trình canh tác, sử dụng vật tư đầu vào an toàn đến truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường, các tiến bộ kỹ thuật đang từng bước rút ngắn khoảng cách giữa sản xuất miền núi với yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Định hướng này cũng phù hợp với tinh thần của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg. Bên cạnh đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất, việc đưa khoa học, công nghệ và các tiến bộ kỹ thuật vào đời sống được xem là giải pháp góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tạo sinh kế, cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững.
Cùng với Chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, miền núi cũng tạo thêm cơ sở để đưa các tiến bộ kỹ thuật đến gần hơn với người dân. Khi tri thức khoa học được chuyển hóa thành quy trình sản xuất phù hợp với điều kiện địa phương, thành sản phẩm có chất lượng và thương hiệu, khoa học và công nghệ không còn là yếu tố hỗ trợ đơn thuần mà trở thành đòn bẩy thúc đẩy sinh kế và tạo giá trị gia tăng ngay trên địa bàn.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Thung Nai đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Điểm nhấn trong chiến lược phát triển bứt phá của xã là sự chuyển dịch mạnh sang mô hình nông nghiệp hữu cơ, đưa các mô hình sản xuất an toàn, hiện đại vào vùng đồng bào dân tộc. Thung Nai đẩy mạnh áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, Global GAP vào thực tiễn; tập trung phát triển vùng cây ăn quả có múi và cơ cấu lại vùng trồng mía. Đặc biệt, địa phương đang xây dựng thành công thương hiệu "cá sạch Thung Nai" thông qua quy trình nuôi trồng thuỷ sản theo quy hoạch và tiêu chuẩn khắt khe.
Ứng dụng khoa học và công nghệ tại Thung Nai không chỉ hướng tới tăng năng suất mà còn gắn với mục tiêu nâng cao giá trị sản phẩm và tổ chức lại sản xuất. Đây là hướng đi có ý nghĩa đối với khu vực miền núi, bởi khi người dân từng bước tham gia vào các chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ, giá trị tạo ra từ tài nguyên bản địa có thể được giữ lại nhiều hơn tại cộng đồng.
Từ góc độ sinh kế, khoa học và công nghệ vì thế có thể tạo ra tác động theo nhiều chiều: giúp giảm chi phí và rủi ro trong sản xuất, nâng chất lượng nông sản, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, đồng thời tạo điều kiện để hình thành các mô hình liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Đây cũng là nền tảng để chuyển từ tư duy sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo tiêu chuẩn, theo nhu cầu thị trường và hướng tới phát triển bền vững.
Không chỉ dừng lại ở nông nghiệp, Thung Nai đánh thức tiềm năng du lịch sẵn có. Địa phương ưu tiên các nguồn lực hoàn thiện hạ tầng tại các điểm trọng điểm, chú trọng phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với lễ hội, văn hóa tâm linh và trải nghiệm cộng đồng vùng lòng hồ. Người dân tại các xóm được khuyến khích phát triển kinh tế vườn, chăn nuôi sạch, tạo ra chuỗi dịch vụ du lịch sinh thái khép kín, mang lại nguồn thu nhập bền vững.

Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của xã Thung Nai.
Thung Nai là vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng, với hơn 1.600ha gieo trồng hằng năm, trong đó 379ha cam, 360ha mía. Thêm vào đó, phong trào xây dựng sản phẩm OCOP bước đầu ghi dấu ấn với nhiều sản phẩm đặc trưng như cao nghệ đen, rượu men lá, du lịch cộng đồng...
Với lợi thế nằm trong Khu du lịch quốc gia hồ Hòa Bình, Thung Nai sở hữu cảnh quan thiên nhiên, văn hóa và hệ sinh thái lòng hồ đặc trưng. Nhiều hộ gia đình và hợp tác xã đã phát triển dịch vụ homestay, vận tải du lịch và ẩm thực bản địa, tạo ra các sinh kế mới cho người dân.
Các điểm đến nổi bật như đền Thác Bờ, cảng Thung Nai, bản du lịch cộng đồng hay Công viên di sản các nhà khoa học Việt Nam đã và đang hình thành sức hút ổn định, góp phần định hình thương hiệu du lịch Thung Nai.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã xác định mục tiêu đến năm 2030, Thung Nai đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; phát triển nông nghiệp, du lịch và dịch vụ trở thành trụ cột, gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái. Đây là mục tiêu hướng đến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân địa phương.