Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Doanh nghiệp phải là trung tâm của quá trình thực thi chính sách

Thứ sáu, 14/08/2026 16:04

Khoa học và công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi doanh nghiệp có khả năng tiếp cận, hấp thụ, làm chủ và đưa công nghệ vào sản xuất, quản trị. Vì vậy, chính sách cần giải quyết đồng thời các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học.

Đó là phát biểu của ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia tại Hội thảo chuyên đề 1, Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia 2026 tại TP. Hồ Chí Minh sáng 14/8/2026.

Ông Nguyễn Nam Hải cho biết, Hội thảo lần này bàn về một vấn đề có tính nền tảng, chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được thiết kế và thực thi như thế nào để thực sự tạo ra năng suất mới. 

Trong giai đoạn phát triển mới, tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, lao động và khai thác tài nguyên. 

Dư địa bền vững phải đến từ năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và sử dụng hiệu quả hơn mọi nguồn lực. 

Tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu chuyển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực trực tiếp của phát triển.

Vì vậy, điều cần bàn không chỉ là khẳng định vai trò của khoa học và công nghệ, mà quan trọng hơn là làm rõ cơ chế để tri thức, công nghệ và các nguồn lực hỗ trợ đi được vào doanh nghiệp; để doanh nghiệp có thể hấp thụ, làm chủ, đổi mới công nghệ; và để kết quả của chính sách được đo bằng mức tăng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.

img

Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia phát biểu tại Hội thảo.

Chương trình Hội thảo sẽ tiếp cận vấn đề từ 3 góc nhìn bổ sung cho nhau: (1) Xu hướng toàn cầu và bài học quốc tế; (2) Chất lượng thể chế và chính sách đổi mới sáng tạo; (3) Tác động của các chính sách mới đối với năng suất của doanh nghiệp Việt Nam. Đây là cách tiếp cận cần thiết để nối tư duy chính sách với thực tiễn triển khai.

Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải cũng đề nghị các diễn giả và đại biểu tập trung trao đổi thẳng vào những điểm nghẽn đang làm chậm quá trình chuyển hóa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành kết quả năng suất; những công cụ chính sách doanh nghiệp thực sự cần, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, đề xuất cơ chế theo dõi, đánh giá để chính sách được điều chỉnh kịp thời trên cơ sở dữ liệu và phản hồi từ thực tiễn. Chính sách chỉ có giá trị khi đi vào cuộc sống, doanh nghiệp có thể tiếp cận và kết quả có thể đo lường.

Phát biểu tại Hội thảo, GS.TS. Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore cho biết, hiện nay, có 7 xu thế đang định hình chính sách khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới.

Các xu thế này bao gồm: AI là hạ tầng năng suất mới; Chuyển đổi mô hình quản lý từ R&D sang hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; Từ năng lực đổi mới sáng tạo sang giải pháp vượt qua thách thức dựa trên đổi mới sáng tạo; AI - DX - GX trở thành tâm điểm của đổi mới sáng tạo; Mô hình 3 nhà (Nhà nước - Viện/trường - Doanh nghiệp) sang hệ sinh thái mở; Chính phủ từ vai trò cấp ngân sách nghiên cứu và quản lý dự án thành nhà kiến tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo; Từ đổi mới cục bộ sang lan tỏa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất toàn nền kinh tế.

Bà Võ Thị Lan Phương, Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam, chuyên gia đánh giá tác động chính sách cho biết, yêu cầu cải cách thể chế để tăng năng suất quốc gia đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Với mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%, tốc độ tăng năng suất lao động đạt 8,5%/năm.

img

GS.TS. Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore chia sẻ tại Hội thảo.

Theo số liệu được trình bày từ Ngân hàng thế giới, tốc độ tăng trưởng năng suất bình quân của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022 là 0,9%, trong khi tổng đầu tư/GDP đạt 32%. Nếu chỉ dựa vào tăng năng suất, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng năng suất hằng năm cao hơn nhiều so với mức 2% đến năm 2030 để đạt mục tiêu thu nhập cao.

Theo Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam Võ Thị Lan Phương, hiện nay, có 6 loại chính sách có nguy cơ làm giảm năng suất. Đó là chính sách tạo chi phí tuân thủ quá lớn; Chính sách làm hạn chế cạnh tranh; Chính sách làm cản trở đổi mới sáng tạo; Chính sách làm gia tăng rủi ro; chính sách tạo "bẫy quy mô" và chính sách bảo hộ.

Điều này khiến cho doanh nghiệp tốn thời gian, tài chính, phát sinh tư vấn và thủ tục, phải điều chỉnh kế hoạch, hệ thống, đầu tư; giảm nguồn lực cho đổi mới và mở rộng sản xuất. Từ đó, thiếu động lực giảm giá, nâng chất lượng và đổi mới. Các doanh nghiệp mới, công nghệ mới khó gia nhập, chi phí đầu vào tăng. Có nhiều trường hợp, do những ảnh hưởng từ chính sách, doanh nghiệp chỉ cố gắng giữ doanh thu, lao động hoặc tài sản dưới ngưỡng…

img

Các đại biểu tham dự Hội thảo chuyên đề 1 tại Diễn đàn Năng suất Quốc gia 2026.

Để khắc phục những vấn đề này, Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam Võ Thị Lan Phương cho rằng, các cơ quan quản lý cần có những thay đổi lớn trong chính sách:

Có thể kể đến như quản lý theo rủi ro, chuyển tiền kiểm sang hậu kiểm khi phù hợp. Loại bỏ yêu cầu trùng lặp, bảo đảm thời gian chuyển tiếp hợp lý.

Chính sách cũng chỉ hạn chế cạnh tranh khi thực sự cần, bỏ quota không cần thiết, bảo đảm trung lập cạnh tranh, chuyển từ điều kiện đầu vào sang quản lý theo rủi ro và kết quả.

Chính sách cũng không nên cấm cái mới chỉ vì chưa có quy định, quản lý theo kết quả, tạo sandbox, bảo đảm trung lập công nghệ và nguyên tắc tương đương…

Phát biểu bế mạc Hội thảo chuyên đề 1, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải cho biết, từ những tham luận và trao đổi tại Hội thảo, có 3 vấn đề chính cần được quan tâm:

Thứ nhất, mục tiêu cuối cùng của chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải là kết quả phát triển có thể đo lường. Hiệu quả chính sách không chỉ thể hiện ở số lượng nhiệm vụ, chương trình hay nguồn lực đã bố trí, mà phải được phản ánh bằng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực tế.

Thứ hai, doanh nghiệp phải là trung tâm của quá trình thực thi chính sách. Khoa học và công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi doanh nghiệp có khả năng tiếp cận, hấp thụ, làm chủ và đưa công nghệ vào sản xuất, quản trị. Vì vậy, chính sách cần giải quyết đồng thời các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học.

Thứ 3, cần hình thành một vòng phản hồi chính sách thường xuyên giữa cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp. Những mô hình hiệu quả phải được đánh giá, nhân rộng; những quy định không còn phù hợp phải được nhận diện và điều chỉnh kịp thời. Chất lượng thể chế được thể hiện ở tốc độ đưa chính sách vào cuộc sống và khả năng tạo ra kết quả thực chất.

"Ban Tổ chức sẽ tổng hợp đầy đủ các ý kiến và khuyến nghị của Hội thảo, chuyển tới phiên toàn thể của Diễn đàn và các cơ quan, đơn vị liên quan để phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách và xây dựng các nhiệm vụ nâng cao năng suất quốc gia trong giai đoạn tới", ông Nguyễn Nam Hải nói.
Trung tâm Truyền thông KH&CN
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm