Nuôi trùn quế là một trong những hướng được Đắk Lắk lựa chọn nghiên cứu và chuyển giao. Trùn có thể sử dụng nguồn chất thải chăn nuôi, phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn; đồng thời tạo ra phân hữu cơ, giá thể phục vụ trồng trọt và các sản phẩm có thể quay trở lại chu trình sản xuất.
Từ cuối năm 2021, Trung tâm Thông tin - Ứng dụng Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk đã triển khai đề tài xây dựng mô hình nuôi trùn quế theo hướng thâm canh và sản xuất thử nghiệm một số sản phẩm phục vụ nông nghiệp.
Từ mô hình thử nghiệm đến kỹ thuật chuyển giao về cơ sở
Sau gần 18 tháng triển khai, mô hình nuôi trùn quế thâm canh quy mô 200 m² được xây dựng tại Trại thực nghiệm KH&CN tỉnh. Từ mô hình, nhóm thực hiện hoàn thiện quy trình nuôi, đồng thời sản xuất thử phân trùn quế, giá thể hữu cơ và dịch trùn quế thủy phân để đánh giá khả năng ứng dụng trong trồng trọt.
Trong năm 2023, Trung tâm tiếp tục xây dựng 2 mô hình chuyển giao quy trình kỹ thuật nuôi trùn quế theo hướng thâm canh tại Cư Kuin và Ea Súp. Cùng với đó, 6 mô hình sản xuất phân hữu cơ sinh học từ phế phụ phẩm nông nghiệp được chuyển giao tới các hộ đồng bào tại vùng sâu, vùng xa ở Ea Kar, Krông Bông và Ea Súp.
Quá trình chuyển giao tiếp tục được mở rộng tại những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Năm 2024, tại xã Đắk Nuê, huyện Lắk, Trung tâm phối hợp với Hội Nông dân địa phương triển khai các mô hình sản xuất phân hữu cơ sinh học, trồng nấm ăn và nuôi trùn quế theo hướng thâm canh. Kết quả tổng kết cho thấy các quy trình tương đối đơn giản, phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân và có khả năng tiếp tục ứng dụng.

Mô hình nuôi trùn quế theo hướng thâm canh được chuyển giao cho người dân tại xã Đắk Nuê, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
Trên diện tích 80 m², hộ tham gia được hỗ trợ một tấn sinh khối giống, hệ thống phun sương, lưới che và được hướng dẫn kỹ thuật. Sau ba tháng, mô hình thu được khoảng 6,5 tấn phân trùn, 50 kg trùn tinh cùng lượng sinh khối để tiếp tục duy trì đàn. Theo kết quả tổng kết của địa phương, sau khi trừ chi phí, mô hình đạt lợi nhuận khoảng 6,2 triệu đồng.
Đắk Nuê là địa bàn vùng III, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 70% dân số. Việc đưa những quy trình có thể thực hiện ở quy mô hộ gia đình đến địa bàn này vì vậy không đơn thuần là chuyển giao một kỹ thuật mới, mà còn góp phần tạo thêm lựa chọn sản xuất cho người dân vùng còn nhiều khó khăn.
Tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình chuyển giao
Sau các mô hình tại Cư Kuin, Ea Súp và Đắk Nuê, kỹ thuật nuôi trùn quế tiếp tục được đưa vào nhóm các mô hình ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ tại cơ sở. Cùng với nuôi trùn quế, Đắk Lắk triển khai các mô hình sản xuất phân hữu cơ từ phế phụ phẩm nông nghiệp, sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý chất thải chăn nuôi và một số tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Trại nuôi trùn quế theo hướng chuyên nghiệp tại Đắk Lắk.
Các mô hình này có điểm chung là tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại hộ gia đình. Phân gia súc, phế phụ phẩm nông nghiệp sau khi được xử lý có thể trở thành nguồn nguyên liệu nuôi trùn hoặc sản xuất phân hữu cơ; sản phẩm tạo ra tiếp tục được sử dụng cho cây trồng. Quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản, có thể triển khai ở quy mô hộ và không đòi hỏi đầu tư thiết bị lớn.
Đến năm 2026, hướng ứng dụng này vẫn tiếp tục được duy trì. Báo cáo kinh tế - xã hội 7 tháng năm 2026 của Đắk Lắk ghi nhận 3 mô hình nuôi trùn quế, cùng 6 mô hình sản xuất phân hữu cơ từ phế phụ phẩm nông nghiệp và các mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý chất thải. Sang 8 tháng năm 2026, số mô hình nuôi trùn quế vẫn được ghi nhận ở mức 3 mô hình.

Lớp huấn luyện chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến cơ sở năm 2026 đã hướng dẫn kỹ thuật nuôi trùn quế và cách ứng dụng mô hình trong sản xuất nông nghiệp .
Từ một mô hình nghiên cứu tại Trại thực nghiệm, kỹ thuật nuôi trùn quế đã từng bước được đưa về cơ sở và tiếp tục hiện diện trong các mô hình chuyển giao của Đắk Lắk đến năm 2026. Việc tận dụng chất thải, phụ phẩm để tạo phân bón, thức ăn chăn nuôi và sản phẩm có giá trị cho thấy một hướng ứng dụng KH&CN phù hợp với sản xuất nông hộ, qua đó góp phần mở thêm sinh kế và nâng cao hiệu quả sản xuất cho người dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng còn nhiều khó khăn.