Ở bản Na Bè, xã Xá Lượng trước đây, nay thuộc xã Tương Dương, tỉnh Nghệ An, đan lát là nghề mà nhiều người Khơ Mú biết từ nhỏ. Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, xã Xá Lượng cùng thị trấn Thạch Giám và xã Lưu Kiền được hợp nhất thành xã Tương Dương.
Cũng tại Na Bè, ông Ven Văn Phòng khi đó cho biết một ngày có thể làm khoảng hai chiếc ghế mây, giá bán từ 100.000-120.000 đồng/chiếc. Sản phẩm làm ra có người mua, mang lại nguồn thu ổn định hơn so với chỉ dựa vào nương rẫy. Các sản phẩm mây tre đan của địa phương không chỉ được sử dụng trong vùng mà đã có khách hàng ở Hà Nội.
Những con số này được ghi nhận từ năm 2022, trước khi nhiệm vụ khoa học và công nghệ hiện nay được triển khai. Nhưng thực tế ở Na Bè cho thấy nghề đan không chỉ mang giá trị văn hóa. Khi có đầu ra, kỹ năng được truyền qua nhiều thế hệ có thể trở thành một nguồn thu ngay tại bản.
Vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào để sản phẩm không chỉ được bán theo những đơn hàng nhỏ lẻ, phụ thuộc vào từng người thợ hoặc những khách hàng quen biết.

Đó cũng là một trong những vấn đề được đặt ra trong nhiệm vụ "Xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm OCOP từ tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số phục vụ xây dựng nông thôn mới vùng miền núi Tây Nghệ An", thuộc Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.
Nghiên cứu cho thấy nghề đan lát vẫn giữ vị trí quan trọng trong đời sống vật chất và văn hóa của người Khơ Mú. Các sản phẩm không chỉ phục vụ sinh hoạt hằng ngày mà còn hiện diện trong nhiều thực hành văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng.
Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm hiện vẫn được tiêu thụ trong nội bộ; một phần nhỏ mới đến với khách du lịch hoặc thương lái. Chủng loại, mẫu mã và khả năng đáp ứng thị trường vì thế còn hạn chế.
Điểm nghẽn được nhóm nghiên cứu xác định không nằm ở việc người dân thiếu kỹ năng đan. Điều còn thiếu là một chuỗi liên kết tương đối hoàn chỉnh, từ nguồn nguyên liệu, tổ chức sản xuất, thiết kế sản phẩm đến bao tiêu và kết nối thị trường. Khi từng hộ tự tìm nguyên liệu, tự làm rồi tự tìm người mua, khả năng phát triển sản xuất hàng hóa bị giới hạn, dù người thợ có tay nghề tốt.
Thực tế này cũng không chỉ riêng với người Khơ Mú. Khoảng cách giữa một sản phẩm truyền thống và một sản phẩm có thể đứng vững trên thị trường chính là không gian để khoa học và công nghệ tham gia.
Khoa học bắt đầu từ những gì người dân đã có
Với mây tre đan Khơ Mú, ứng dụng khoa học và công nghệ không đồng nghĩa với thay cách làm thủ công bằng máy móc.
Giá trị trước hết nằm ở việc nghiên cứu, hệ thống hóa những tri thức đang tồn tại trong cộng đồng: người dân lựa chọn nguyên liệu ra sao, xử lý mây tre thế nào, những kỹ thuật nào tạo nên đặc trưng của sản phẩm, nhu cầu sử dụng truyền thống đang thay đổi như thế nào và sản phẩm nào có khả năng tiếp cận thị trường rộng hơn.
Từ kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứu đề xuất phát triển chuỗi giá trị OCOP theo hướng hiện đại nhưng vẫn giữ bản sắc; đồng thời quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững và phát huy vai trò của hợp tác xã trong kết nối sản xuất với thị trường.
Mây, tre không chỉ là vật liệu để người thợ bắt đầu một sản phẩm. Chất lượng, kích thước, độ tuổi và cách xử lý nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền cũng như hình thức của sản phẩm. Khi sản xuất tăng lên mà nguồn nguyên liệu thiếu ổn định, việc duy trì chất lượng và số lượng hàng hóa sẽ khó khăn.
Miền Tây Nghệ An có điều kiện để phát triển nguồn nguyên liệu tre, mét. Tại Tương Dương, địa phương từng xây dựng đề án phát triển vùng nguyên liệu tre, mét để phục vụ các nhà máy chế biến cũng như các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, làng nghề mây tre đan.
Nghiên cứu vì thế đặt vùng nguyên liệu vào cùng chuỗi với sản phẩm, thay vì xem đây là hai câu chuyện tách biệt.
Khi sản phẩm bước ra thị trường, yêu cầu cũng khác với một vật dụng được làm để sử dụng trong gia đình. Một chiếc ghế, chiếc gùi hay chiếc mâm dùng trong bản có thể mang dấu ấn riêng của từng người đan. Nhưng sản xuất hàng hóa đòi hỏi độ ổn định hơn về kích thước, độ bền, mức độ hoàn thiện, mẫu mã và khả năng cung ứng.
Nghiên cứu về nghề đan Khơ Mú xác định hướng phát triển sản phẩm phải vừa thích ứng với nhu cầu thị trường, vừa giữ những yếu tố tạo nên bản sắc. Cùng với đó là vai trò của hợp tác xã trong tập hợp hộ sản xuất, tổ chức nguồn nguyên liệu và kết nối đầu ra.
Một người thợ có thể tự làm và bán vài sản phẩm, nhưng khó đồng thời đảm nhiệm việc tìm thị trường, nhận đơn hàng, thống nhất tiêu chuẩn, tổ chức vận chuyển và quảng bá.
Khi nhiều hộ được kết nối trong một tổ chức sản xuất, những công việc ấy có thể được phân chia rõ hơn. Người thợ tập trung vào phần việc mình có lợi thế; hợp tác xã hoặc tổ chức liên kết đảm nhiệm các khâu mà một hộ riêng lẻ khó thực hiện.
Đây cũng là điều kiện để sản phẩm từng bước tiếp cận Chương trình OCOP, trong đó hàng thủ công mỹ nghệ là một trong những nhóm sản phẩm được đánh giá, phân hạng.
Khoa học và công nghệ trong nhiệm vụ còn được mở rộng sang môi trường số. Năm 2025, trong khuôn khổ đề tài đã triển khai gói phần mềm du lịch tương tác thông minh và số hóa 3D/360. Hạng mục này cho thấy hướng kết nối tri thức, sản phẩm và không gian văn hóa bản địa với hoạt động giới thiệu, quảng bá và du lịch không chỉ dừng ở cách tiếp cận truyền thống.
Nghề đan của người Khơ Mú tồn tại được đến nay trước hết nhờ những người vẫn biết chọn mây, vót nan, tạo hình và truyền kỹ năng ấy cho thế hệ sau.
Nhưng trong đời sống hiện đại, việc bảo tồn một nghề sẽ khó bền vững nếu sản phẩm ngày càng ít người sử dụng và người làm nghề không có thu nhập tương xứng với công sức bỏ ra.
Công trình nghiên cứu về mây tre đan Khơ Mú đặt hai mục tiêu sinh kế và bảo tồn trong cùng một bài toán. Thương mại hóa phù hợp có thể tạo thêm đầu ra cho sản phẩm, trong khi giá trị văn hóa và tri thức bản địa trở thành yếu tố tạo nên sự khác biệt thay vì bị loại bỏ khỏi quá trình phát triển sản phẩm.
Khoa học và công nghệ vì thế không bắt đầu bằng việc mang đến một nghề mới. Công việc trước tiên là nhận diện giá trị của nghề đang có, tìm ra những mắt xích còn thiếu rồi kết nối nguyên liệu, người làm nghề, tổ chức sản xuất, OCOP, thị trường và công cụ số thành một chuỗi.
Ở Na Bè, những chiếc ghế mây từng cho thấy đôi bàn tay người Khơ Mú có thể tạo ra sản phẩm được thị trường đón nhận. Bước tiếp theo là để đầu ra ấy không phụ thuộc vào vài người thợ hay một số đơn hàng nhỏ lẻ.
Khi tri thức bản địa được đặt trong một chuỗi sản xuất và thị trường bài bản hơn, chiếc gùi, chiếc mâm hay chiếc ghế mây không chỉ kể câu chuyện về một nghề truyền thống. Chúng còn có thể trở thành sản phẩm tạo sinh kế ngay trên vùng đất nơi nghề đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ.