Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật lâu nay thường được nhìn nhận như những yêu cầu mang tính kỹ thuật, nhưng phía sau mỗi tiêu chuẩn là cả một chuỗi hoạt động từ nghiên cứu, xây dựng, thử nghiệm, đánh giá, cập nhật đến phổ biến và áp dụng.
Việc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 23/2026/TT-BKHCN đang góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính cho chuỗi hoạt động này, trong bối cảnh tiêu chuẩn hóa ngày càng gắn chặt với năng suất, chất lượng, thương mại quốc tế và phát triển công nghệ chiến lược.
Với doanh nghiệp, tiêu chuẩn không đơn thuần là những con số trong một văn bản kỹ thuật. Đó có thể là điều kiện để sản phẩm được chấp nhận trong chuỗi cung ứng, đáp ứng yêu cầu của thị trường và tạo niềm tin cho người tiêu dùng.
Thực tế với hàng hóa xuất khẩu cho thấy, cùng với năng lực sản xuất, doanh nghiệp ngày càng phải quan tâm đến các yêu cầu về chất lượng, an toàn, truy xuất, phương pháp thử, ghi nhãn và đánh giá sự phù hợp. Khi các thị trường gia tăng yêu cầu kỹ thuật, việc đáp ứng tiêu chuẩn trở thành một phần quan trọng của năng lực cạnh tranh.
Câu chuyện cà phê từng cho thấy rõ điều này. Năm 2007, khi Việt Nam đưa TCVN 4193:2005 vào kiểm tra chất lượng cà phê nhân xuất khẩu, vấn đề đặt ra không chỉ là ban hành một tiêu chuẩn mới mà còn là khả năng doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn trong thực tế. Các yêu cầu về chất lượng, phương pháp phân loại và kiểm soát sản phẩm có liên quan trực tiếp đến khả năng đáp ứng thị trường xuất khẩu.
Bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay, khi hàng hóa Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu và các yêu cầu kỹ thuật của thị trường ngày càng cao.
Đặc biệt, Luật số 70/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới hoạt động tiêu chuẩn hóa, bảo đảm phù hợp thực tiễn, thông lệ quốc tế và hạn chế những rào cản kỹ thuật không cần thiết trong thương mại.
Trong bối cảnh đó, câu chuyện tài chính cho hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn không còn là vấn đề thuần túy của công tác dự toán ngân sách. Đây là một mắt xích của quá trình xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ngày 28/5/2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ký ban hành Thông tư số 23/2026/TT-BKHCN quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho hoạt động tiêu chuẩn, hoạt động quy chuẩn kỹ thuật. Thông tư có hiệu lực từ ngày 12/7/2026.
Thông tư được xây dựng trên cơ sở Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, Luật Đầu tư công, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các nghị định hướng dẫn liên quan.
Điểm đáng chú ý là phạm vi điều chỉnh không chỉ dừng ở việc lập dự toán, quản lý và quyết toán kinh phí sự nghiệp mà còn bao gồm kinh phí đầu tư phát triển cho các hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thuộc phạm vi Thông tư. Thông tư không điều chỉnh kinh phí tổ chức thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ban hành quy chuẩn kỹ thuật.
Theo quy định mới, nguồn ngân sách nhà nước có thể được bố trí cho nhiều nhóm nhiệm vụ, từ xây dựng và thực hiện chiến lược tiêu chuẩn quốc gia, kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, kế hoạch xây dựng quy chuẩn kỹ thuật, đến phổ biến tiêu chuẩn, quy chuẩn; xây dựng, rà soát và đánh giá hiệu quả áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn.
Đáng chú ý, cơ chế chi còn bao quát hoạt động của các Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia; tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao năng lực chuyên môn cho cơ quan thẩm định tiêu chuẩn quốc gia; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ chuyên gia đạt trình độ quốc tế trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Đây là những nội dung có ý nghĩa lâu dài bởi một hệ thống tiêu chuẩn mạnh không thể chỉ dựa vào việc ban hành văn bản. Đằng sau một tiêu chuẩn phù hợp với thực tiễn là hoạt động của các chuyên gia, phòng thử nghiệm, tổ chức đánh giá, Ban kỹ thuật, cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Một điểm đáng chú ý khác là Thông tư 23/2026/TT-BKHCN được triển khai trong thời điểm hoạt động tiêu chuẩn hóa đang được mở rộng sang những lĩnh vực công nghệ mới và công nghệ chiến lược.
Ngày 14/6/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 2778/QĐ-BKHCN về Danh mục tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài về sản phẩm công nghệ chiến lược và hướng dẫn khung định hướng áp dụng tiêu chuẩn, tiêu chí lựa chọn nội dung xây dựng TCVN phục vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.
Danh mục này gồm 3.030 tiêu chuẩn, trong đó có 1.150 tiêu chuẩn quốc gia và 1.880 tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài, bao phủ 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược.
Con số hơn 3.000 tiêu chuẩn cho thấy quy mô của bài toán chuẩn hóa trong giai đoạn phát triển mới. Với các lĩnh vực như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và những công nghệ chiến lược khác, việc xác định các chuẩn kỹ thuật phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu, sản xuất, đánh giá chất lượng và khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Nếu thiếu một hệ thống tiêu chuẩn cập nhật, doanh nghiệp có thể đầu tư được công nghệ nhưng gặp khó khi chứng minh chất lượng sản phẩm; cơ quan quản lý có thể có mục tiêu phát triển nhưng thiếu công cụ kỹ thuật để tổ chức thực hiện; còn thị trường có thể có nhu cầu nhưng thiếu những chuẩn chung để kết nối các chủ thể.

Việc ban hành Thông tư số 23/2026/TT-BKHCN tạo sự thống nhất trong công tác lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí cho hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn. Ảnh minh họa.
Bởi vậy, tiêu chuẩn hóa đang dần chuyển từ vai trò "hậu kiểm kỹ thuật" sang một phần của hạ tầng phát triển công nghệ và thị trường.
Một trong những yêu cầu xuyên suốt của Thông tư số 23/2026/TT-BKHCN là việc quản lý, sử dụng kinh phí phải bảo đảm đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tiêu chuẩn hóa. Một tiêu chuẩn được xây dựng không chỉ để hoàn thành một nhiệm vụ hành chính, mà cần hướng tới khả năng được áp dụng trong thực tiễn.
Thông tư vì vậy quy định khá rộng các nhóm nhiệm vụ có thể được bố trí kinh phí, bao gồm cả đánh giá hiệu quả áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn; đào tạo nguồn nhân lực; hợp tác quốc tế; hoạt động thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT); xây dựng, vận hành, duy trì, khai thác và nâng cấp Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.
Việc đưa hoạt động TBT và cơ sở dữ liệu vào phạm vi các nội dung chi có ý nghĩa thực tế đối với doanh nghiệp. Khi hàng hóa Việt Nam đi ra thị trường quốc tế, thông tin về yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu, phương pháp đánh giá sự phù hợp hay các quy định liên quan có thể trở thành yếu tố quyết định việc doanh nghiệp có tiếp cận được thị trường hay không.
Ở chiều ngược lại, khi Việt Nam xây dựng quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu đặt ra cũng là phải bảo đảm tính khả thi, đồng bộ với hoạt động đánh giá sự phù hợp và không tạo ra rào cản kỹ thuật không cần thiết cho thương mại. Đây cũng là những nguyên tắc được Luật số 70/2025/QH15 đặt ra đối với việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật.
Trong giai đoạn Việt Nam chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật cần được nhìn nhận như một phần của hạ tầng kinh tế - kỹ thuật.
Một sản phẩm công nghệ mới muốn đi từ phòng nghiên cứu ra thị trường cần tiêu chí để đánh giá. Một doanh nghiệp muốn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu cần chứng minh chất lượng theo những chuẩn mực được thị trường thừa nhận. Một cơ quan quản lý muốn kiểm soát rủi ro cần có các yêu cầu kỹ thuật rõ ràng. Và một quốc gia muốn nâng cao năng suất, chất lượng cần có hệ thống chuẩn hóa đủ năng lực theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ và thị trường.
Trong bối cảnh đó, Thông tư số 23/2026/TT-BKHCN không chỉ giải quyết bài toán "chi từ nguồn ngân sách như thế nào", mà quan trọng hơn là góp phần tạo cơ chế để các nguồn lực được đầu tư có hệ thống cho hoạt động xây dựng, cập nhật, phổ biến và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn.
Khi cơ chế tài chính được hoàn thiện, yêu cầu tiếp theo sẽ là chuyển mạnh từ "có tiêu chuẩn" sang "tiêu chuẩn được áp dụng và tạo ra giá trị"; từ xây dựng văn bản sang đo lường hiệu quả thực tế; từ đáp ứng yêu cầu trong nước sang chủ động tham gia xây dựng và hài hòa tiêu chuẩn quốc tế.
Đó cũng là cách để những khoản đầu tư cho tiêu chuẩn hóa không dừng lại ở những bộ hồ sơ, văn bản kỹ thuật, mà trở thành năng lực thực tế của doanh nghiệp, sức cạnh tranh của sản phẩm và nền tảng cho các ngành công nghệ mới của Việt Nam.

