Theo UN E-Government Survey 2024, Việt Nam đã tăng 15 bậc, vươn lên vị trí 71/193 quốc gia, lần đầu tiên bước vào nhóm có Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) ở mức rất cao. Tuy nhiên, khoảng cách 21 bậc để vào Top 50 không thể thu hẹp bằng tư duy cũ như mua sắm máy chủ phân tán hay đơn thuần đưa ứng dụng lên Cloud. Bài toán đặt ra là phải kết nối dữ liệu, năng lực tính toán AI và các nền tảng dùng chung trong một kiến trúc thống nhất.
Cloud First: Từ hạ tầng theo dự án sang kiến trúc dùng chung
Quyết định 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số² giai đoạn 2026-2030 đặt yêu cầu hạ tầng số phải trở thành “hạ tầng thiết yếu, hạ tầng chiến lược của quốc gia”, là nền tảng cho dữ liệu, AI, chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đối với khu vực công, hạ tầng số được định hướng phát triển thống nhất, linh hoạt, có khả năng mở rộng từ Trung ương tới địa phương.
Quyết định 1425/QĐ-TTg ngày 29/7/2026 về Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, phiên bản 1.0³, đóng vai trò như bản thiết kế kỹ thuật cho Chiến lược chuyển đổi số. Các thành phần dùng chung quốc gia được thiết kế theo bốn lớp: hạ tầng số và an ninh mạng; dữ liệu và nền tảng lõi; ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung; kênh tương tác và đo lường hiệu quả. Trong đó, hạ tầng số là lớp nền cho toàn bộ kiến trúc. Văn bản ghi rõ nguyên tắc “ưu tiên sử dụng hạ tầng, nền tảng điện toán đám mây (Cloud First)” và “ưu tiên dùng chung” hạ tầng số đã có thay vì đầu tư phân tán.
Cloud không còn là lựa chọn công nghệ của từng dự án riêng lẻ mà trở thành nguyên tắc thiết kế ở cấp quốc gia, đi cùng với phân cấp, phân quyền: Trung ương xây dựng, vận hành các nền tảng dùng chung; địa phương kết nối vào. Các bộ, ngành, địa phương có 6 tháng kể từ thời điểm ban hành để hoàn thành khung kiến trúc số, chậm nhất vào cuối tháng 1/2027.
Nguyên tắc này cũng làm thay đổi mô hình chi tiêu: thay vì đầu tư mua sắm máy chủ theo từng dự án, cơ quan nhà nước chuyển dần sang thuê dịch vụ hạ tầng, trả theo mức sử dụng, triển khai ứng dụng nhanh hơn và không phải gánh toàn bộ vòng đời thiết bị.
Trung tâm dữ liệu quốc gia vận hành từ giữa năm 2026, nơi Cổng Dịch vụ công quốc gia đã chuyển về từ tháng 5/2026; các hệ thống gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung sẽ lần lượt hội tụ. Phần còn lại của nhu cầu, bao gồm ứng dụng nghiệp vụ từng ngành, môi trường phát triển - kiểm thử, sao lưu và dự phòng thảm họa, cùng năng lực tính toán AI, là không gian của đám mây dịch vụ theo đúng phân vai của Khung kiến trúc.
Khi AI trở thành tiêu chí, Cloud phải bổ sung năng lực tính toán tăng tốc
Chiến lược chuyển đổi số đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% cơ sở dữ liệu dùng chung cấp quốc gia, bộ, ngành và địa phương được chuẩn hóa, kết nối, phân quyền và sẵn sàng khai thác cho AI. Đồng thời, 100% Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cấp tỉnh phải tích hợp AI để phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.
“Sẵn sàng cho AI” không thể đạt được nếu chỉ dừng ở thuật toán hay mua sắm thêm GPU. Báo cáo của KPMG ghi nhận 48% tổ chức dịch vụ công toàn cầu kỳ vọng triển khai AI ở quy mô vận hành (production) trong vòng 12 tháng, nhưng 43% thừa nhận gặp trở ngại lớn khi mở rộng từ thử nghiệm sang thực tế.⁴ Với khu vực công, rào cản nằm ở khả năng phân quyền dữ liệu, hạ tầng mạng, mức độ an toàn thông tin và năng lực cấp phát tài nguyên tính toán tức thời.
Để giải bài toán hạ tầng cho AI quy mô lớn, ngày 28/8/2026, Chính phủ đã ban hành Quyết định 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.⁵ Văn kiện này chính thức tách hạ tầng AI thành một trụ cột chiến lược riêng biệt, bao gồm Cloud, Hybrid/Multi-cloud cho AI, Edge AI và Trung tâm dữ liệu AI, đi kèm Nền tảng điều phối năng lực tính toán quốc gia.
Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng năng lực hạ tầng tính toán AI do Nhà nước, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam đạt khoảng 560 EFLOPS BF16 hoặc 1.100 EFLOPS FP8, với tổng công suất điện khoảng 500 MW.
Nội dung Chiến lược Trí tuệ nhân tạo mở rộng yêu cầu đối với hạ tầng Cloud: bên cạnh tài nguyên tính toán phổ thông, hệ thống phải có khả năng tính toán hiệu năng cao (HPC), tích hợp GPU theo nhu cầu. Định hướng này đã bắt đầu phản ánh vào các khoản đầu tư trên thị trường của các tập đoàn công nghệ.
Đơn cử, tháng 4/2024, FPT công bố kế hoạch đầu tư 200 triệu USD xây dựng AI Factory hợp tác cùng NVIDIA, trang bị hàng nghìn GPU H100/H200. Đến tháng 3/2026, FPT tiếp tục công bố triển khai NVIDIA HGX B300 cho các tác vụ AI thế hệ mới như reasoning và agentic AI.
Một cụm GPU riêng lẻ chưa tạo thành năng lực AI ở quy mô vận hành. Mô hình AI chỉ thực sự tạo ra giá trị khi tài nguyên tính toán hiệu năng cao được kết nối đồng bộ với dữ liệu, công cụ phát triển và môi trường vận hành an toàn.
Chủ quyền Cloud được cụ thể hóa theo mức độ nhạy cảm của dữ liệu
Một yêu cầu xuyên suốt Quyết định 1266 là tự chủ công nghệ, chủ quyền số, chủ quyền dữ liệu và an ninh dữ liệu.
Trong khu vực công tại châu Á, yêu cầu về chủ quyền hạ tầng đám mây đang chuyển từ những khái niệm chung sang các quy định cụ thể theo mức độ nhạy cảm của dữ liệu. Hàn Quốc yêu cầu nhà cung cấp đám mây phục vụ khu vực công thông qua chương trình đánh giá bảo mật CSAP, với yêu cầu lưu trữ trong nước và mã hóa tùy theo cấp độ hệ thống.²
Malaysia cho phép dữ liệu công khai sử dụng đám mây công cộng (public cloud), trong khi dữ liệu hạn chế (Restricted) được định hướng sang đám mây riêng (private cloud) hoặc đám mây chủ quyền (sovereign cloud). Với dữ liệu mật (Confidential), chính sách yêu cầu lưu trữ trong vùng đám mây chủ quyền (sovereign cloud zone) đặt tại Malaysia.³
Tại Việt Nam, Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số yêu cầu huy động nguồn lực doanh nghiệp và thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển hạ tầng tính toán chuyên dụng, nhưng phải đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn, an ninh, chủ quyền dữ liệu và khả năng kết nối, chia sẻ, dùng chung.
Một số doanh nghiệp công nghệ đã bắt đầu đầu tư theo hướng kết hợp các lớp năng lực này. Theo FPT Cloud, nền tảng của doanh nghiệp đã được Bộ Công an thẩm định, phê duyệt đáp ứng yêu cầu an toàn hệ thống thông tin cấp độ 4 cho nền tảng Cloud phục vụ chính phủ điện tử. Bên cạnh đó, hệ thống đáp ứng bộ tiêu chí an ninh mạng và tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 14423:2026 cùng Quyết định số 8297/QĐ-BCA-A05, bao gồm an toàn mạng, máy chủ, ứng dụng, dữ liệu, giám sát và ứng phó sự cố. Hạ tầng số Make in Viet Nam của FPT đồng thời là nền tảng vận hành dịch vụ công của một số ban, ngành, cơ quan chính phủ.
Hạ tầng số chủ quyền quốc gia cần được đánh giá bằng những tiêu chí có thể đo đếm và kiểm chứng, từ mức độ an toàn, khả năng kiểm soát truy cập đến năng lực giám sát, ứng phó sự cố và duy trì hoạt động, thay vì chỉ dựa vào vị trí đặt máy chủ hay nguồn gốc nhà cung cấp.
Khoảng cách từ vị trí 71 đến Top 50 EGDI toàn cầu không thể thu hẹp nếu chỉ dựa vào quy mô hạ tầng kỹ thuật. Bản chất EGDI được cấu thành từ ba trụ cột: Hạ tầng viễn thông (TII), Dịch vụ trực tuyến (OSI) và Vốn con người (HCI).
Ba quyết định chiến lược vừa qua đã chính thức đưa Cloud và AI từ vị trí công cụ hỗ trợ trở thành nền móng của kiến trúc quốc gia số. Thách thức lớn nhất trong giai đoạn 2026-2030 là năng lực chuyển hóa từ bản vẽ kiến trúc sang trải nghiệm thực tế của người dân trên từng dịch vụ công.