
Ảnh minh họa
Theo Kế hoạch, tỉnh Hà Tĩnh định hướng phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số theo hướng lấy nhu cầu thực tiễn của tỉnh và thị trường làm trung tâm; tập trung phát triển, làm chủ các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số phục vụ các lĩnh vực có lợi thế trên địa bàn tỉnh như: công nghiệp, năng lượng, logistics, cảng biển, cửa khẩu, nông nghiệp, văn hóa, du lịch và môi trường, qua đó hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ số có tiềm lực tham gia trực tiếp giải quyết các bài toán phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từng bước mở rộng ra thị trường trong nước và quốc tế, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng GRDP và phát triển kinh tế số bền vững.
Đến năm 2030, Hà Tĩnh phấn đấu hình thành 3 - 5 doanh nghiệp công nghệ số nòng cốt của tỉnh có năng lực phát triển, tích hợp và vận hành nền tảng số, nền tảng dữ liệu, nền tảng AI phục vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ số. Tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số của tỉnh tương đương mức trung bình của các tỉnh trong khu vực Bắc Trung bộ. Trên 60% doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng công nghệ số.
Tỉnh cũng đặt mục tiêu có ít nhất 3 sản phẩm nền tảng/giải pháp số do doanh nghiệp công nghệ số trong tỉnh phát triển được ứng dụng hiệu quả để giải quyết trực tiếp các bài toán lớn của tỉnh (đô thị, nông thôn mới thông minh, môi trường, logistics, y tế, giáo dục, du lịch,...); phấn đấu mỗi năm có 2-3 bài toán lớn của các ngành, lĩnh vực được triển khai.
Bên cạnh đó, Hà Tĩnh sẽ nghiên cứu hình thành trung tâm/không gian đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh; có tối thiểu 3 vườn ươm/khu làm việc chung/trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Phấn đấu thực hiện tối thiểu 1 hoạt động cấp phép và triển khai thử nghiệm có kiểm soát sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ phù hợp điều kiện thực tiễn phát triển công nghiệp công nghệ số nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoàn thiện khung pháp lý về công nghiệp công nghệ số.
Về hạ tầng dữ liệu, Hà Tĩnh đặt mục tiêu cơ bản hoàn thiện Cổng Dữ liệu mở tỉnh Hà Tĩnh; 100% các sở, ban, ngành cấp tỉnh thực hiện công bố, chia sẻ dữ liệu (không thuộc phạm vi bí mật nhà nước) để cộng đồng doanh nghiệp khai thác, phát triển sản phẩm. Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ số bình quân 1.000 lượt người/năm; kết nối, hình thành đội ngũ, mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước về công nghệ số để dẫn dắt, thực hiện các nhiệm vụ của tỉnh.
Năng suất lao động tăng tối thiểu 15% do doanh nghiệp áp dụng các nền tảng số phục vụ quản trị, sản xuất và kinh doanh. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số vào GRDP đạt 15-20%.

