
Toàn cảnh Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh.
Chiều ngày 08/7/2026, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên tổ chức họp Hội đồng khoa học và công nghệ chuyên ngành đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện đề tài. Tham dự cuộc họp có các thành viên Hội đồng, đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia phản biện cùng nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài.
Đề tài do Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì thực hiện, PGS.TS. Nguyễn Phương Nhuệ làm Chủ nhiệm.
Trong thời gian triển khai từ tháng 01/2024 đến tháng 6/2026, nhóm nghiên cứu đã khảo sát thực trạng nuôi tôm tại các vùng nuôi trọng điểm, phân lập, tuyển chọn các chủng vi sinh vật bản địa có hoạt tính sinh học cao, xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm, đánh giá hiệu quả trong điều kiện phòng thí nghiệm và thử nghiệm trên mô hình nuôi thực tế.

ThS. Nguyễn Xuân Hải, Chủ tịch Hội đồng phát biểu tại Hội nghị.

PGS.TS. Nguyễn Phương Nhuệ báo cáo kết quả thực hiện đề tài.
Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là đã phân lập được 50 chủng vi sinh vật từ mẫu nước, bùn và tôm tại các vùng nuôi; tuyển chọn được 07 chủng vi sinh vật bản địa ưu tú có khả năng phân giải chất hữu cơ, ức chế vi khuẩn gây bệnh và thích nghi với điều kiện nuôi tại địa phương.
Nhóm nghiên cứu đã xây dựng thành công hai chế phẩm vi sinh gồm CPTB1 bổ sung vào thức ăn và CPTB2 xử lý môi trường nước nuôi tôm; đồng thời hoàn thiện hai quy trình sản xuất, hai quy trình kỹ thuật sử dụng, xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho sản phẩm và mô hình ứng dụng thực tế phục vụ sản xuất.

Hai chế phẩm vi sinh CPTB1, CPTB2 được nghiên cứu, phát triển từ kết quả đề tài.
Kết quả thử nghiệm tại mô hình nuôi cho thấy việc sử dụng đồng thời hai chế phẩm giúp cải thiện rõ rệt chất lượng môi trường ao nuôi. Hàm lượng chất hữu cơ giảm từ 47-65%; các chỉ tiêu khí độc được kiểm soát thấp hơn từ 2,4 đến 14 lần so với mô hình đối chứng; mật độ vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus - tác nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm giảm trên 24 lần.
Nhờ môi trường nuôi ổn định và hệ vi sinh có lợi được bổ sung thường xuyên, tôm sinh trưởng tốt hơn, tăng trọng từ 19,6-25,2%, hệ số chuyển đổi thức ăn đạt 1,24-1,25, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm chi phí sản xuất và hướng tới phát triển nghề nuôi tôm theo hướng an toàn, bền vững.

Sở KH&CN cùng đoàn công tác Kiểm tra sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng trong mô hình thử nghiệm.
Đáng chú ý, đề tài không chỉ tạo ra sản phẩm ứng dụng mà còn làm chủ được quy trình công nghệ. Các chế phẩm được sản xuất từ nguồn vi sinh vật bản địa, đạt mật độ vi sinh có ích từ 10⁸ CFU/ml trở lên, bảo quản ổn định trong thời gian 06 tháng, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy chuẩn chuyên ngành.
Kết quả nghiên cứu góp phần giảm sự phụ thuộc vào các chế phẩm nhập khẩu, mở ra hướng chủ động sản xuất chế phẩm sinh học phù hợp với điều kiện nuôi tôm tại địa phương và các vùng có điều kiện tương đồng.


Thu mẫu tôm phục vụ đánh giá hiệu quả mô hình thử nghiệm.
Tại phiên họp, các thành viên Hội đồng đánh giá cao cách tiếp cận khoa học, phương pháp nghiên cứu bài bản cũng như giá trị thực tiễn của đề tài.
Hội đồng nhận định nhóm nghiên cứu đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu đặt ra, tạo được bộ chủng vi sinh vật bản địa có giá trị, xây dựng được quy trình công nghệ tương đối hoàn chỉnh và chứng minh hiệu quả ứng dụng thông qua mô hình thực tế.
Hội đồng cũng đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện báo cáo tổng kết; nghiên cứu mở rộng quy mô sản xuất chế phẩm, đánh giá hiệu quả trên nhiều vùng nuôi và nhiều vụ nuôi khác nhau nhằm nâng cao khả năng thương mại hóa và chuyển giao công nghệ.

Ủy viên phản biện nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu
Kết quả bỏ phiếu của Hội đồng cho thấy đề tài đạt 84,17 điểm và được thống nhất nghiệm thu. Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng sẽ góp phần bổ sung giải pháp khoa học và công nghệ phục vụ phát triển ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh Hưng Yên theo hướng xanh, an toàn sinh học, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

