Đáng chú ý, quá trình tái cơ cấu nông nghiệp được triển khai song hành với các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Qua đó, nguồn lực đầu tư cho hạ tầng, sản xuất, sinh kế và nâng cao năng lực của người dân từng bước được phát huy, góp phần tạo nền tảng để khu vực phía Tây Lâm Đồng khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đất đai, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hóa, bền vững.
Phát huy lợi thế đất đai, hình thành vùng nguyên liệu
Khu vực phía Tây Lâm Đồng có lợi thế lớn về đất đỏ bazan, phù hợp phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Theo thống kê, 28 xã, phường phía Tây có tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên 378.000 ha, chiếm khoảng 58% diện tích tự nhiên. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành các vùng sản xuất tập trung, phát triển những ngành hàng có lợi thế cạnh tranh như cà phê, hồ tiêu, mắc ca và sầu riêng.
Tại các địa bàn như Đắk Mil, Đức An, Đắk Song, Quảng Tín, Cư Jút, Krông Nô, khu vực Gia Nghĩa, nhiều vùng sản xuất tập trung đã được hình thành. Cùng với việc mở rộng diện tích, người dân ngày càng thay đổi tư duy canh tác, chú trọng chất lượng nông sản và hiệu quả trên từng đơn vị diện tích.
Mô hình trồng thuần kết hợp xen canh, điển hình như trồng xen sầu riêng trong vườn cà phê, được nhiều hộ áp dụng. Cách làm này vừa tận dụng hiệu quả không gian canh tác, vừa đa dạng hóa sản phẩm, phân tán rủi ro và tạo thêm nguồn thu cho người dân.
Chia sẻ về hiệu quả của mô hình, ông Nguyễn Văn Hợp (xã Quảng Tín) cho hay, gia đình hiện canh tác 1,8 ha cà phê trồng xen sầu riêng. Chỉ tính riêng cà phê, năng suất bình quân đạt hơn 4 tấn nhân/ha. Vụ mùa năm qua, gia đình thu khoảng 8 tấn cà phê nhân, bán với giá bình quân 95.000 đồng/kg, đạt doanh thu khoảng 760 triệu đồng.
Giá cà phê duy trì ở mức cao giúp gia đình có thêm nguồn lực tái đầu tư, chăm sóc vườn cây, nâng cao năng suất và chất lượng. Trong khi đó, cây sầu riêng được trồng xen tạo thêm nguồn thu trong tương lai, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Không chỉ các hộ sản xuất thay đổi phương thức canh tác, vai trò của hợp tác xã và doanh nghiệp trong tổ chức lại sản xuất cũng ngày càng rõ nét. Các đơn vị tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, từ hướng dẫn kỹ thuật, cung ứng vật tư, thu mua đến sơ chế, chế biến và tiêu thụ, góp phần hình thành những vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Điển hình tại xã Đức An, Hợp tác xã thương mại, dịch vụ, chế biến, sản xuất nông nghiệp Đoàn Kết đang quản lý 450 ha cà phê và hồ tiêu; trong đó có 150 ha hồ tiêu đạt chứng nhận Rainforest Alliance và 42,2 ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ USDA-NOP của Hoa Kỳ.
Theo ông Lưu Như Bính, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã thương mại, dịch vụ, chế biến, sản xuất nông nghiệp Đoàn Kết cho biết, đơn vị đã xây dựng thành công hai sản phẩm OCOP 3 sao gồm Cà phê bột Rừng Lạnh và Hạt tiêu đen Rừng Lạnh, đồng thời trở thành đối tác của các doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu hữu cơ.

Đất đỏ bazan màu mỡ cùng điều kiện khí hậu thuận lợi giúp cây hồ tiêu phát triển mạnh tại khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng.
"Thời gian tới, hợp tác xã sẽ tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ, tăng cường liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Việc chuẩn hóa quy trình sản xuất trên toàn vùng nguyên liệu không chỉ giúp kiểm soát chặt chẽ chất lượng mà còn tăng thế chủ động cho nông dân khi đưa sản phẩm ra thị trường", ông Bính nhấn mạnh.
Từ thực tế sản xuất cho thấy, hiệu quả khai thác đất đai không chỉ phụ thuộc vào quy mô diện tích mà ngày càng gắn chặt với phương thức tổ chức sản xuất, lựa chọn cây trồng, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Đây cũng là hướng đi phù hợp với mục tiêu nâng cao sinh kế, thu nhập cho người dân tại các địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong giai đoạn 2021-2025, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tập trung nguồn lực hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, đầu tư cơ sở hạ tầng và nâng cao đời sống người dân. Đối với những địa bàn phía Tây Lâm Đồng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, việc phát huy lợi thế nông nghiệp, gắn hỗ trợ sinh kế với tổ chức lại sản xuất và liên kết thị trường có ý nghĩa thiết thực trong nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững.
Như vậy, nguồn lực từ chương trình không chỉ được nhìn nhận ở việc hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân từng bước tiếp cận phương thức sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực sản xuất và chủ động hơn trong phát triển sinh kế.
Tăng giá trị nông sản từ chế biến và liên kết thị trường
Dù sở hữu tiềm năng lớn, mô hình sản xuất của nhiều nông hộ ở khu vực phía Tây Lâm Đồng vẫn còn nhỏ lẻ, liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chưa thật sự bền vững. Hệ thống sơ chế, bảo quản, kho lạnh và chế biến sâu còn hạn chế, trong khi một phần nông sản vẫn tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô nên giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng.
Biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và yêu cầu ngày càng cao của thị trường cũng đặt ra yêu cầu phải sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất, nước và vật tư nông nghiệp; đồng thời chuyển mạnh sang những phương thức sản xuất an toàn, thích ứng và bền vững.
Cùng với việc hình thành các vùng nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, Rainforest Alliance và các tiêu chuẩn khác, tỉnh Lâm Đồng đang định hướng thu hút đầu tư vào những khâu có khả năng tạo giá trị gia tăng cao hơn.
Trên cơ sở Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Sở Nông nghiệp và Môi trường vừa qua đã đề xuất danh mục các dự án thu hút đầu tư trọng điểm, tập trung gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ, ứng dụng công nghệ và liên kết giữa các vùng.

Từ vùng nguyên liệu cà phê, các cơ sở sản xuất tại phía Tây tỉnh Lâm Đồng đa dạng hóa sản phẩm chế biến, góp phần nâng cao giá trị hạt cà phê.
Đáng chú ý, địa phương đang thu hút đầu tư hai dự án trọng điểm về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, trồng cây dược liệu, chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao cùng Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại khu vực xã Nhân Cơ - Kiến Đức với tổng diện tích trên 500 ha.
Mục tiêu của các dự án là thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển nông nghiệp thông minh, chế biến sau thu hoạch, tích hợp mô hình nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, chăn nuôi công nghệ cao kết hợp trồng cây lâu năm.
Song song đó, tỉnh tập trung mời gọi đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến cà phê quy mô lớn tại xã Nhân Cơ và Đức Trọng. Mỗi nhà máy dự kiến có công suất từ 50.000 đến 100.000 tấn nguyên liệu/năm, với tổng vốn đầu tư khoảng 500-1.200 tỷ đồng.
Các dự án hướng đến sản xuất những dòng sản phẩm cà phê chất lượng cao, cà phê hòa tan và cà phê đặc sản, qua đó nâng cao giá trị xuất khẩu, khẳng định và gia tăng giá trị thương hiệu cà phê Lâm Đồng trên thị trường quốc tế.
Đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc phát triển chế biến và liên kết thị trường càng có ý nghĩa khi tạo đầu ra ổn định cho vùng nguyên liệu, hạn chế tình trạng sản xuất manh mún, giảm phụ thuộc vào thương lái và giúp người dân có thêm cơ hội nâng cao thu nhập ngay trên địa bàn.
Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với tinh thần của Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn I 2021-2025: phát triển sản xuất phải gắn với sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập và phát huy nội lực của cộng đồng. Khi người dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển, lợi thế về đất đai, khí hậu và kinh nghiệm sản xuất mới có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế lâu dài.
Bên cạnh đó, KHCN,ĐMST&CĐS cũng được xác định là động lực then chốt trong toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất. Lâm Đồng chú trọng truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa chất lượng, minh bạch thông tin sản phẩm; đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư vào hạ tầng logistics, hệ thống bảo quản sau thu hoạch và công nghệ chế biến sâu, mở rộng các kênh phân phối hiện đại, thương mại điện tử và hợp tác quốc tế.
Đối với nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, ứng dụng khoa học, công nghệ không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn mở ra phương thức sản xuất mới, phù hợp với yêu cầu tiết kiệm tài nguyên, thích ứng biến đổi khí hậu và kiểm soát chất lượng nông sản. Từ tưới tiết kiệm, sử dụng phân bón hợp lý đến ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc và kết nối tiêu thụ, công nghệ đang từng bước hiện diện sâu hơn trong quá trình sản xuất của người dân.
Trong giai đoạn tiếp theo, việc tiếp tục phát huy kết quả của Chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời huy động nguồn lực xã hội hóa, doanh nghiệp và hợp tác xã được kỳ vọng tạo thêm động lực để các địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nâng cao chất lượng sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản.
Với nền tảng đất đai giàu tiềm năng, kinh nghiệm canh tác phong phú của người dân cùng định hướng phát triển đồng bộ, khu vực phía Tây Lâm Đồng đang hội tụ nhiều điều kiện để trở thành vùng động lực nông nghiệp hàng hóa của tỉnh.
Từ lợi thế đất đỏ bazan, hướng đi đang được đặt ra không chỉ là tăng diện tích hay sản lượng, mà là nâng cao giá trị trên từng đơn vị đất, từng sản phẩm và từng mắt xích của chuỗi sản xuất. Chuyển từ tư duy "sản xuất nông nghiệp" sang "kinh tế nông nghiệp", lấy khoa học công nghệ, vùng nguyên liệu chuẩn hóa, chế biến sâu và liên kết thị trường làm nền tảng sẽ là chìa khóa để biến lợi thế đất đai thành giá trị kinh tế bền vững, đồng thời góp phần nâng cao đời sống người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Tây Lâm Đồng./.