Bỏ qua đến nội dung chính

Khi trí tuệ trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia

Thứ năm, 02/04/2026 21:19

Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (KHCN, ĐMST&CĐS) đã đưa ra một cách tiếp cận mang tính chiến lược: Phát triển KHCN,ĐMST&CĐS không thể tách rời con người, mà phải bắt đầu từ con người. Trong đó, đội ngũ nhà khoa học được xác định là nhân tố then chốt lực lượng trực tiếp tạo ra tri thức, công nghệ và những giá trị mới cho nền kinh tế.

Tạo môi trường để trí tuệ được phát huy

Đây không chỉ là sự khẳng định về vai trò, mà còn là sự chuyển dịch trong tư duy phát triển. Khi KH&CN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nhà khoa học không còn là "hậu phương" của đổi mới, mà chính là trung tâm của quá trình sáng tạo, là điểm khởi nguồn của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tinh thần đó tiếp tục được nhấn mạnh trong các chỉ đạo gần đây đặc biệt là trong thông báo kết luận số 20-TB/CQTTBCĐ tại Phiên họp thứ nhất năm 2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển KHCN,ĐMST&CĐS khi yêu cầu đặt con người, đặc biệt là nhân lực KH&CN vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ thay đổi nhận thức, mà phải đồng thời hoàn thiện thể chế, cơ chế và môi trường để trí tuệ được phát huy một cách tối đa.

Thực tiễn cho thấy, khoa học và công nghệ chỉ có thể bứt phá khi có môi trường thuận lợi cho sáng tạo. Trong thời gian qua, cùng với những kết quả đạt được, cơ chế, chính sách về thể chế, tài chính và quản lý vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn cho đội ngũ trí thức phát huy năng lực. Thực tế cũng cho thấy, một số kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng rộng rãi, một số ý tưởng sáng tạo chưa có đủ điều kiện để triển khai đến cùng.

Khi trí tuệ trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia- Ảnh 1.

Đầu tư cho giáo dục khoa học là đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nhận diện rõ vấn đề này, Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu cải cách mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học, công nghệ theo hướng trao quyền tự chủ cao hơn cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu; đồng thời chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra. Cùng với đó là việc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu yếu tố tất yếu của sáng tạo nhằm khuyến khích các ý tưởng đột phá.

Một điểm đáng chú ý là cách tiếp cận mới về chính sách đãi ngộ. Không chỉ dừng ở thu nhập, chính sách cần hướng tới tạo dựng môi trường làm việc thuận lợi, điều kiện nghiên cứu hiện đại và cơ chế tài chính linh hoạt. Khi được trao quyền và được tin tưởng, nhà khoa học mới có thể toàn tâm theo đuổi những nghiên cứu dài hạn, có giá trị thực tiễn cao.

Bên cạnh đó, việc thu hút và trọng dụng nhân tài, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia trình độ cao trong và ngoài nước, tiếp tục được xác định là giải pháp quan trọng. Việc kết nối, phát huy nguồn lực trí tuệ toàn cầu sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và rút ngắn khoảng cách công nghệ.

Phát triển nhân lực gắn với mục tiêu quốc gia

Không chỉ dừng ở định hướng, Nghị quyết 57 đã cụ thể hóa mục tiêu phát triển nhân lực khoa học, công nghệ bằng những chỉ tiêu rõ ràng. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đạt khoảng 12 nhân lực nghiên cứu và phát triển trên mỗi một vạn dân, đồng thời hình thành từ 40 đến 50 tổ chức khoa học và công nghệ có năng lực ngang tầm khu vực và quốc tế.

Những con số này cho thấy yêu cầu không chỉ về số lượng, mà còn về chất lượng và chiều sâu của nguồn nhân lực. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc sở hữu đội ngũ nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ lõi, tham gia dẫn dắt các lĩnh vực công nghệ mới là yếu tố quyết định.

Định hướng phát triển nhân lực cũng được gắn chặt với các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học… Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và giá trị gia tăng, đồng thời mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế.

Cùng với đó, việc xây dựng mạng lưới chuyên gia, kết nối trí thức trong và ngoài nước, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và phát triển cũng được đặt ra như một nhiệm vụ trọng tâm. Đây là điều kiện để hình thành các tập thể khoa học mạnh, đủ sức triển khai các nhiệm vụ lớn, mang tầm quốc gia.

Khi trí tuệ trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia- Ảnh 2.

Nhà khoa học thực hiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, lực lượng nòng cốt của đổi mới sáng tạo.

Đáng chú ý, phát triển nhân lực không chỉ giới hạn ở đội ngũ tinh hoa, mà còn được mở rộng ra toàn xã hội. Việc phổ cập kiến thức khoa học, nâng cao kỹ năng số, thúc đẩy tinh thần học tập và sáng tạo trong cộng đồng được xác định là nền tảng để hình thành một xã hội đổi mới sáng tạo.

Có thể thấy, điểm cốt lõi của Nghị quyết 57 là đặt con người cụ thể là đội ngũ nhà khoa học vào trung tâm của chiến lược phát triển. Đây không chỉ là một định hướng chính sách, mà là sự thay đổi trong mô hình phát triển: từ dựa vào tài nguyên và lao động giản đơn sang dựa vào tri thức và sáng tạo.

Trong bối cảnh thế giới đang chuyển dịch nhanh chóng, quốc gia nào làm chủ được nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ nắm giữ lợi thế cạnh tranh. Và để làm được điều đó, không chỉ cần chính sách đúng, mà cần một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, khuyến khích và bảo vệ sáng tạo.

Khi trí tuệ được giải phóng, khi nhà khoa học thực sự được đặt vào vị trí trung tâm, khoa học, công nghệ mới có thể trở thành động lực cốt lõi, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
icon Xem theo ngày

Cổng thông tin điện tử các đơn vị thuộc Bộ

Doanh nghiệp

Top