Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Động lực tháo gỡ điểm nghẽn phát triển ngành chăn nuôi Thanh Hóa

Những năm gần đây, ngành chăn nuôi Thanh Hóa đang chuyển dịch theo hướng quy mô lớn, liên kết chuỗi. Tuy nhiên, những hạn chế về giống, công nghệ và thị trường vẫn là rào cản phát triển. Đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của ngành.

5 điểm nghẽn cần tháo gỡ

Theo Trung tâm Nghiên cứu, khảo nghiệm và Dịch vụ vật nuôi (Viện Nông nghiệp Thanh Hóa), có 5 điểm nghẽn chủ yếu đang cản trở quá trình phát triển chăn nuôi hàng hóa, chất lượng cao trên địa bàn tỉnh:

Thứ nhất, điểm nghẽn về giống và công nghệ sinh sản:

Việc phát triển các giống vật nuôi có năng suất, chất lượng cao chưa tương xứng với tiềm năng. 

Công tác chọn lọc, cải tạo giống, quản lý nguồn gen và sản xuất giống chất lượng cao chưa hình thành chuỗi đồng bộ. Đối với bò, dê và một số vật nuôi khác, việc ứng dụng thụ tinh nhân tạo, tinh đông lạnh, lai tạo có định hướng và chọn lọc di truyền còn hạn chế.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Động lực tháo gỡ điểm nghẽn phát triển ngành chăn nuôi Thanh Hóa- Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Thứ hai, điểm nghẽn về quy mô và tổ chức sản xuất:

Chăn nuôi phân tán, quy mô nhỏ khiến việc áp dụng đồng bộ công nghệ, kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm an toàn sinh học gặp khó khăn. 

Chi phí sản xuất cao, chất lượng sản phẩm thiếu đồng nhất và khả năng truy xuất nguồn gốc hạn chế cũng làm giảm cơ hội liên kết với doanh nghiệp.

Với các nguồn gen vật nuôi bản địa, cần kết hợp bảo tồn và chọn lọc nâng cao chất lượng, xây dựng đàn hạt nhân, nhân giống và phát triển sản phẩm hàng hóa gắn với thương hiệu địa phương. Trọng tâm là ứng dụng công nghệ sinh sản, cải tiến quy trình chọn giống và xây dựng hệ thống sản xuất giống có kiểm soát, từng bước chủ động nguồn giống chất lượng cao.

Để khắc phục, cần tổ chức lại sản xuất theo hướng hình thành các vùng chăn nuôi hàng hóa tập trung, chuyên môn hóa, phù hợp với điều kiện từng địa phương và gắn với nhu cầu thị trường. Đồng thời, chuẩn hóa các quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, kiểm soát chất lượng đầu vào và quản lý môi trường phù hợp với từng nhóm hộ và trang trại.

Thứ ba, điểm nghẽn về liên kết chuỗi giá trị. 

Sự phối hợp giữa nhà khoa học, cơ quan quản lý, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp, hợp tác xã và người chăn nuôi chưa thực sự chặt chẽ. Một số kết quả nghiên cứu chưa được chuyển giao, ứng dụng và nhân rộng hiệu quả trong thực tiễn.

Theo đại diện Trung tâm, hoạt động nghiên cứu cần được tiếp nối bằng quá trình hoàn thiện công nghệ, giảm giá thành và kiểm chứng hiệu quả trên thị trường. Điều này đòi hỏi sự phối hợp giữa các bên ngay từ khâu xác định nhu cầu nghiên cứu, thử nghiệm đến chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm. Qua đó, kết quả nghiên cứu có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn và tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ.

Thứ tư, điểm nghẽn về ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. 

Việc ứng dụng công nghệ trong chăn nuôi chưa đồng đều, nhất là tại các hộ và trang trại quy mô vừa và nhỏ. Các lĩnh vực còn nhiều dư địa phát triển gồm công nghệ giống và sinh sản, dinh dưỡng chính xác, chuồng trại thông minh, xử lý chất thải, cảm biến và Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý đàn, phần mềm quản lý chăn nuôi và hệ thống dữ liệu phục vụ cảnh báo sớm dịch bệnh.

Việc lựa chọn công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế, quy mô và khả năng đầu tư của cơ sở. Đồng thời, xây dựng, kết nối dữ liệu về đàn vật nuôi, nguồn giống, dịch bệnh, năng suất và sản lượng sẽ hỗ trợ quản lý sản xuất, theo dõi sức khỏe vật nuôi, nâng cao khả năng phát hiện rủi ro và phục vụ công tác điều hành.

Thứ năm, điểm nghẽn về chế biến và thị trường. Sản phẩm chăn nuôi của tỉnh vẫn chủ yếu tiêu thụ dưới dạng tươi sống hoặc sơ chế, trong khi yêu cầu của thị trường ngày càng cao về an toàn thực phẩm, chất lượng đồng đều, tiêu chuẩn sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu.

Để nâng cao giá trị sản phẩm, cần đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong bảo quản, giết mổ, chế biến và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao; đồng thời, hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng, bao bì, thương hiệu và mở rộng kênh tiêu thụ theo nhu cầu thị trường.

Từ mô hình thực tiễn đến yêu cầu nhân rộng

Hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ trong chăn nuôi được thể hiện qua mô hình trang trại gà đẻ trứng của ông Trịnh Ngọc Dũng, ở thôn Phong Lai, xã Xuân Lập, Thanh Hóa. Trang trại được đầu tư theo hướng khép kín, sử dụng hệ thống làm mát, quạt thông gió, chiếu sáng, điều khiển nhiệt độ tự động và sưởi ấm khi thời tiết lạnh, kết hợp quy trình chăn nuôi an toàn sinh học.

Theo thông tin Báo Thanh Hóa công bố tháng 8/2026, trang trại cung ứng khoảng 2.400 quả trứng mỗi ngày, mang lại lợi nhuận hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Mô hình cho thấy việc đầu tư đồng bộ vào chuồng trại, thiết bị và quy trình kỹ thuật có thể góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát môi trường chăn nuôi và hạn chế nguy cơ dịch bệnh.

Từ thực tiễn này, việc lựa chọn, chuyển giao công nghệ cần phù hợp với điều kiện, khả năng đầu tư của từng cơ sở, đồng thời gắn ứng dụng kỹ thuật với tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ và phát triển chuỗi giá trị. 

Các mô hình được nhân rộng cần dựa trên đánh giá hiệu quả thực tế, bảo đảm tính khả thi về kinh tế và khả năng áp dụng tại từng địa bàn, thay vì triển khai theo một mô hình chung cho mọi đối tượng chăn nuôi.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Động lực tháo gỡ điểm nghẽn phát triển ngành chăn nuôi Thanh Hóa- Ảnh 2.

Ảnh minh họa.

Từ những điểm nghẽn trên, đại diện Trung tâm Nghiên cứu, khảo nghiệm và Dịch vụ vật nuôi đề xuất 5 nhóm nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng tâm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả chăn nuôi:

Một là, cải tạo và phát triển giống vật nuôi chủ lực. 

Tập trung vào các đối tượng có tiềm năng như lợn, bò thịt, dê, gia cầm, trâu đen Thanh Hóa và các nguồn gen vật nuôi bản địa có giá trị. 

Ứng dụng công nghệ chọn lọc, lai tạo, thụ tinh nhân tạo, tinh đông lạnh và đánh giá di truyền, từng bước chủ động nguồn giống chất lượng cao.

Hai là, phát triển bò thịt chất lượng cao. Ứng dụng công nghệ chọn giống, lai tạo và sinh sản, cải tiến quy trình chăn nuôi, dinh dưỡng và kiểm soát chất lượng, gắn vùng nuôi, chế biến và tiêu thụ nhằm nâng cao giá trị của chuỗi sản phẩm bò thịt.

Ba là, bảo tồn và phát triển nguồn gen vật nuôi bản địa. Kết hợp bảo tồn nguồn gen với chọn lọc nâng cao chất lượng, phát triển quy mô đàn, hoàn thiện quy trình chăn nuôi và xây dựng sản phẩm đặc trưng. 

Bốn là phát triển chăn nuôi số. Xây dựng cơ sở dữ liệu về giống, đàn vật nuôi, dịch bệnh, năng suất, thức ăn, sản lượng và thị trường; ứng dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc.

Năm là, ứng dụng khoa học công nghệ trong chế biến và thương mại hóa sản phẩm chăn nuôi. Ưu tiên công nghệ bảo quản, chế biến, hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường.

Tháo gỡ các điểm nghẽn về giống, tổ chức sản xuất, công nghệ, liên kết chuỗi và chế biến là điều kiện quan trọng để chăn nuôi Thanh Hóa phát triển theo hướng hiện đại, an toàn và hiệu quả, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường./.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm