Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Khoa học và công nghệ nâng tầm Gừng sẻ Trà Bồng

Ứng dụng khoa học và công nghệ trong nhân giống, canh tác và liên kết tiêu thụ đang góp phần nâng cao giá trị cây gừng sẻ Trà Bồng, giống cây bản địa gắn với đồng bào Co ở tỉnh Quảng Ngãi. Với năng suất mô hình trồng thuần đạt bình quân 7,6 tấn/ha, cây gừng từng bước phát huy tiềm năng trở thành sản phẩm hàng hóa, tạo thêm sinh kế cho người dân vùng núi.

Nhân giống gừng sẻ, canh tác theo hướng hữu cơ 

Từ phương thức canh tác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, người dân từng bước tiếp cận kỹ thuật nhân giống, trồng theo hướng hữu cơ, sơ chế và liên kết tiêu thụ, nâng cao giá trị cây trồng bản địa. Kết quả nổi bật là mô hình canh tác gừng sẻ quy mô 10 ha tại khu vực Trà Bồng và Sơn Tây trước sắp xếp. 

Theo kết quả tổng hợp của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi, năng suất bình quân mô hình trồng thuần đạt 7,6 tấn/ha, cao hơn 52% so với mục tiêu, lợi nhuận bình quân đạt hơn 159 triệu đồng/ha. Đối với mô hình trồng xen, năng suất đạt 3,28 tấn/ha, lợi nhuận bình quân gần 24 triệu đồng/ha.

Khoa học và công nghệ nâng tầm Gừng sẻ Trà Bồng- Ảnh 1.

Giống gừng sẻ được đồng bào Co gìn giữ qua nhiều thế hệ đang có thêm cơ hội phát triển nhờ ứng dụng khoa học và công nghệ.

Một trong những thay đổi quan trọng là ứng dụng kỹ thuật nhân giống gừng sẻ trong bao, giúp chủ động nguồn giống, thuận lợi trong theo dõi khả năng sinh trưởng và chuẩn bị vật liệu trồng trước khi đưa ra sản xuất trên diện rộng. 

Thông qua sự phối hợp với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ, mô hình nhân giống được triển khai với 4.000 bao tại hai địa bàn Sơn Trà và Sơn Long trước sắp xếp, mỗi địa bàn 2.000 bao. Kết quả cho thấy năng suất củ giống đạt bình quân 0,77 kg/bao, cao hơn 10% so với mục tiêu; số nhánh đạt tiêu chuẩn làm giống bình quân 30,9 nhánh/bao. 

Từ nguồn giống được nhân, mô hình canh tác gừng sẻ theo hướng hữu cơ được triển khai trên diện tích 10 ha, gồm 3 ha trồng thuần và 7 ha trồng xen. Các phương thức trồng xen được bố trí cùng lúa rẫy, bắp và cây ăn quả, phù hợp với điều kiện đất sản xuất của người dân miền núi.

Ở phương thức trồng thuần, năng suất bình quân đạt 7,6 tấn/ha; trong khi mô hình trồng xen đạt 3,28 tấn/ha. Sự khác biệt về năng suất phản ánh đặc điểm từng phương thức canh tác, đồng thời cho thấy người dân có thể lựa chọn cách trồng phù hợp với điều kiện đất đai và cơ cấu cây trồng của hộ gia đình.

Trong quá trình triển khai, 3 hướng dẫn kỹ thuật được hoàn thiện gồm nhân giống gừng sẻ trong bao, trồng thuần theo hướng hữu cơ và trồng xen theo hướng hữu cơ. Các hướng dẫn được chuyển giao thông qua xây dựng mô hình, đào tạo kỹ thuật viên và tập huấn cho nông dân.

Người dân được hướng dẫn sử dụng phân hữu cơ, chăm sóc cây trồng theo quy trình kỹ thuật, hạn chế phụ thuộc vào vật tư hóa học. Cách làm này phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, đồng thời góp phần thay đổi tập quán canh tác trên diện tích đất miền núi.

Ông Hồ Văn Nghĩa, hộ dân tại xã Sơn Trà (nay là xã Tây Trà) cho biết gia đình được hỗ trợ 4 tạ giống gừng. Sau quá trình canh tác, sản lượng thu hoạch đạt hơn 3 tấn và được đơn vị liên kết thu mua, mang lại nguồn thu đáng kể cho gia đình. Đây là minh chứng cho thấy hiệu quả từ việc kết hợp hỗ trợ giống, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức đầu ra. 

Liên kết chế biến, nâng giá trị gừng sẻ bản địa

Không dừng ở nâng năng suất, hoạt động ứng dụng khoa học và công nghệ còn hướng đến giải quyết khâu sơ chế, chế biến và tiêu thụ gừng sẻ. Đây là bước cần thiết để cây trồng bản địa tham gia chuỗi giá trị, thay vì chỉ bán nguyên liệu theo từng vụ.

Tại các địa bàn triển khai, mô hình tận dụng 200 m² nhà xưởng của các hợp tác xã để đầu tư thiết bị sơ chế. Kết quả, đã sơ chế 42,5 tấn gừng tươi và chế biến được 2.965 kg bột gừng khô đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm theo kết quả tổng hợp của nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

Khoa học và công nghệ nâng tầm Gừng sẻ Trà Bồng- Ảnh 2.

Đối với đồng bào Co, gừng sẻ vốn là cây trồng quen thuộc, được sử dụng làm gia vị và dược liệu trong đời sống.

Việc đưa thiết bị vào khâu sơ chế giúp nâng cao khả năng phân loại, xử lý và chuẩn bị nguyên liệu phục vụ chế biến. Mô hình đã hình thành liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác và đơn vị thu mua, chế biến. Trong thời gian triển khai, đã sản xuất, sơ chế và tiêu thụ 42,5 tấn gừng tươi nguyên liệu.

Gừng được phân loại khi thu mua, với mức giá 50.000 đồng/kg với loại I và 30.000 đồng/kg với loại II. Đây là mức giá trong thời gian triển khai, không phải giá thị trường cố định.

Cùng với phát triển vùng nguyên liệu, sản phẩm gừng sẻ Trà Bồng đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động nhận diện và bảo vệ tên gọi sản phẩm. Nhãn hiệu "Gừng sẻ (gừng gió) Trà Bồng" mang số đăng ký 459792.

Việc bảo hộ nhãn hiệu có ý nghĩa đối với sản phẩm nông nghiệp bản địa, bởi giá trị của gừng sẻ không chỉ đến từ sản lượng mà còn gắn với nguồn gốc, đặc điểm giống và uy tín vùng trồng. Để duy trì giá trị đó, chất lượng nguyên liệu và khả năng truy xuất nguồn gốc cần được kiểm soát trong quá trình sản xuất, thu mua và chế biến.

Kết quả mô hình cho thấy cây gừng sẻ có thể tạo giá trị kinh tế trên diện tích canh tác phù hợp. Đặc biệt, phương thức trồng xen mở thêm lựa chọn cho các hộ chưa có điều kiện dành riêng diện tích đất lớn để phát triển vùng gừng chuyên canh. Tuy nhiên, việc duy trì liên kết giữa người trồng với hợp tác xã và cơ sở chế biến có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng phát triển lâu dài của mô hình.

Đối với xã Tây Trà và các địa bàn miền núi liên quan, hướng phát triển tiếp theo là duy trì nguồn giống gừng sẻ bản địa, nâng cao chất lượng chuyển giao kỹ thuật và củng cố chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức ổn định, các sản phẩm chế biến có thêm điều kiện phát triển, góp phần nâng giá trị nông sản địa phương.

Từ cây gừng quen thuộc của đồng bào Co, ứng dụng khoa học và công nghệ đã tạo chuyển biến trong cả 3 khâu: nhân giống, canh tác và tiêu thụ. Đây là nền tảng để gừng sẻ Trà Bồng tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn bảo tồn nguồn giống bản địa với cải thiện thu nhập cho người dân vùng núi Quảng Ngãi.



Trung tâm Truyền thông KH&CN (tổng hợp)
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm