An toàn là số 1 cho giấc mơ năng lượng xanh
Trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách chuẩn bị tiền đề khoa học cho việc sử dụng năng lượng nguyên tử sau năm 2000 và chuẩn bị điều kiện để xây dựng nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) sau năm 2015; chủ trương tái khởi động Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và chương trình nghiên cứu điện hạt nhân tại Việt Nam, trong đó ban hành nhiều cơ chế, chính sách đột phá nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, như Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Tại buổi làm việc với Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam vào tháng 09/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, việc tái khởi động chương trình điện hạt nhân đặt ra yêu cầu cao về an ninh hạt nhân, địa điểm, đánh giá địa chất - thủy văn, động đất - sóng thần, quản lý chất thải, trách nhiệm dân sự và bảo hiểm, cùng năng lực thẩm định - cấp phép - giám sát độc lập phải phù hợp tiêu chuẩn quốc tế.

Thôn Vĩnh Trường, xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận (nay là Khánh Hòa), nơi sẽ xây dựng NMĐHN Ninh Thuận 1 (Ảnh: VnExpress).
Từ thực trạng trên, Tổng Bí thư yêu cầu cần thống nhất một số định hướng, chiến lược xuyên suốt: Tuyệt đối không đánh đổi an toàn lấy tiến độ hay quy mô; kiên định xây dựng văn hóa an toàn là nền tảng, đồng thời phát triển năng lực nội sinh để từng bước làm chủ công nghệ hạt nhân; hợp tác quốc tế trên nguyên tắc đồng thiết kế, đồng chế tạo, đồng vận hành, đồng quản lý.
Trong bối cảnh Việt Nam tái khởi động dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và đẩy mạnh nghiên cứu năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, việc hoàn thiện khung pháp lý về an toàn là ưu tiên hàng đầu để tạo dựng niềm tin cho nhân dân và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe.
Do vậy, việc ban hành Thông tư số 07/2026/TT-BKHCN là sự phản hồi kịp thời đối với chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc phát triển năng lượng nguyên tử phải thận trọng, từng bước và "tuyệt đối không đánh đổi an toàn lấy tiến độ hay quy mô".
Phù hợp tiêu chuẩn quốc tế
Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 316/2025/NĐ-CP của Chính phủ về bảo đảm an toàn hạt nhân đối với địa điểm, thiết kế, xây dựng và phân tích an toàn cho NMĐHN. Thông tư nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tạo nền tảng cho việc phát triển điện hạt nhân an toàn, bền vững tại Việt Nam trong thời gian tới.
Không giống như các công trình dân dụng thông thường, việc khảo sát và đánh giá địa điểm xây dựng NMĐHN theo Thông tư phải trải qua các bước thẩm định khắt khe, nhằm đảm bảo địa điểm có khả năng chống chọi trước mọi kịch bản cực đoan của thiên nhiên và con người.
Thông tư quy định chặt chẽ các yêu cầu về lựa chọn địa điểm xây dựng NMĐHN, dựa trên các tiêu chí đánh giá tổng hợp về địa chất, địa chấn, khí tượng - thủy văn, dân cư và khả năng ứng phó sự cố. Đặc biệt, yếu tố an toàn được đặt lên hàng đầu, bảo đảm hạn chế tối đa các rủi ro có thể phát sinh trong suốt vòng đời của nhà máy.
Theo đó, Thông tư quy định chi tiết các yếu tố loại trừ, tuyệt đối không được phép xây dựng NMĐHN ở những nơi có đứt gãy hoạt động, hiện tượng núi lửa hay các hiện tượng khí tượng cực đoan, ngập lụt. Khoảng cách từ địa điểm xây dựng NMĐHN đến các sân bay cũng được quy định chi tiết để loại bỏ các nguy cơ từ các hoạt động giao thông hàng không.
Ở khâu yêu cầu an toàn đối với thiết kế NMĐHN, Thông tư yêu cầu áp dụng nguyên tắc phòng vệ nhiều lớp, kết hợp các giải pháp kỹ thuật tiên tiến nhằm ngăn ngừa sự cố và giảm thiểu hậu quả nếu xảy ra sự cố. Các hệ thống an toàn phải được thiết kế với độ tin cậy cao, có khả năng vận hành độc lập và chịu được các điều kiện khắc nghiệt, kể cả các tình huống cực đoan.
Đặc biệt, nguyên lý ALARA (liều chiếu xạ thấp nhất có thể đạt được một cách hợp lý) được nhấn mạnh xuyên suốt trong mọi quy định về bảo vệ bức xạ, bảo đảm an toàn tối đa cho cả nhân viên vận hành và cộng đồng dân cư.
Việc kết hợp cả phương pháp phân tích tất định và xác suất giúp dự báo không chỉ các sự cố trong cơ sở thiết kế mà còn cả các điều kiện mở rộng, bao gồm cả kịch bản nóng chảy vùng hoạt lò phản ứng.
Thông tư đặt ra yêu cầu bắt buộc về nguyên tắc "bảo vệ theo chiều sâu" với 5 mức bảo vệ độc lập, gồm: Ngăn ngừa sai lệch khỏi trạng thái vận hành bình thường và sai hỏng các hạng mục quan trọng về an toàn; phát hiện và kiểm soát các sai lệch khỏi trạng thái vận hành bình thường, ngăn ngừa các tình huống vận hành dự kiến phát triển thành điều kiện sự cố; kiểm soát các sự cố trong phạm vi cơ sở thiết kế, ngăn ngừa hư hại vùng hoạt lò phản ứng hoặc việc phát thải phóng xạ mà cần tới biện pháp bảo vệ ngoài cơ sở, đưa nhà máy về trạng thái an toàn; ngăn chặn sự tiến triển của sự cố do sai hỏng mức 3 và giảm nhẹ hậu quả của sự cố nghiêm trọng; giảm thiểu hậu quả do phát thải chất phóng xạ.
Đối với giai đoạn xây dựng NMĐHN, quy định tại Thông tư nhấn mạnh việc kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt từ vật liệu, thiết bị đến quy trình thi công. Các hoạt động xây dựng phải tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành và chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Vai trò giám sát của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân với quyền xác định các "điểm dừng" nhằm kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện hoạt động nhất định manh tính không thể đảo ngược trong quá trình thi công. Cục An toàn bức xạ và hạt nhân có trách nhiệm bố trí nguồn lực bảo đảm giám sát an toàn bức xạ và hạt nhân nhất quán, kịp thời và phù hợp với tiến độ của các hoạt động xây dựng; xây dựng chương trình giám sát phù hợp với kế hoạch xây dựng của chủ đầu tư trong hồ sơ đề nghị cấp phép xây dựng NMĐHN; thiết lập cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên với chủ đầu tư, để phục vụ việc lập kế hoạch giám sát, kiểm tra hoạt động xây dựng.
Đối với yêu cầu về phân tích an toàn, chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ các báo cáo phân tích an toàn ở tất cả các giai đoạn, từ thiết kế sơ bộ, thiết kế kỹ thuật đến vận hành. Các phân tích này phải chứng minh được khả năng bảo đảm an toàn trong điều kiện bình thường cũng như khi xảy ra sự cố giả định, bao gồm cả các kịch bản tai nạn nghiêm trọng…

Dự án Darlington Nuclear Generating Station (Ontario, Canada) - lò SMR đầu tiên ở Canada. (Nguồn: Canadian Nuclear Safety Commission).
Đồng thời, Thông tư cũng quy định rõ về hệ thống quản lý chất lượng trong suốt vòng đời của dự án điện hạt nhân từ khảo sát địa điểm đến chấm dứt hoạt động NMĐHN là yêu cầu bắt buộc. Người đứng đầu tổ chức phải chịu trách nhiệm chính về hệ thống quản lý chất lượng, đảm bảo nguồn lực về nhân lực, tài chính, cơ sở hạ tầng để thực thi các mục tiêu an toàn. Quan trọng hơn là thúc đẩy và duy trì văn hóa an toàn hạt nhân. Tất cả cá nhân trong tổ chức từ người đứng đầu tổ chức trở xuống đều phải có trách nhiệm thực hiện và thúc đẩy văn hóa an toàn. Đây là những yếu tố "phi kỹ thuật" nhưng lại đóng vai trò sống còn trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu sai sót từ con người.
Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 31/3/2026, thay thế các quy định tại Thông tư cũ từ giai đoạn 2009-2015 gồm: Thông tư số 13/2009/TT-BKHCN; Thông tư số 28/2011/TT-BKHCN; Thông tư số 30/2012/TT-BKHCN; Thông tư số 12/2015/TT-BKHCN; Thông tư số 20/2025/TT-BKHCN. Sự thay đổi này cho thấy tầm nhìn của các nhà quản lý khi nhận diện về sự cần thiết phải cập nhật các công nghệ lò phản ứng tiên tiến, hiện đại và an toàn hơn.
Thông tư số 07/2026/TT-BKHCN được ban hành không chỉ góp phần cụ thể hóa các quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử, mà còn thể hiện quyết tâm của cơ quan quản lý trong việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế. Qua đó, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, xây dựng niềm tin của xã hội đối với lĩnh vực điện hạt nhân, một lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi mức độ an toàn cao nhất.
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của các lò phản ứng điện hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR), cũng như Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới của năng lượng nguyên tử, trong đó điện hạt nhân được xác định giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu năng lượng quốc gia. Thông tư mới ban hành đã kịp thời định hình các tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với những xu thế này. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam bám sát, hội nhập sâu hơn với hệ thống tiêu chuẩn an toàn hạt nhân toàn cầu, sẵn sàng và thận trọng để làm chủ nguồn năng lượng của tương lai.

