Bỏ qua đến nội dung chính

Mở cơ chế đột phá, hình thành doanh nghiệp công nghệ dẫn dắt

Thứ tư, 15/04/2026 16:08

Trong tiến trình triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, việc hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ đủ mạnh để làm chủ các sản phẩm chiến lược đang trở thành nhiệm vụ trọng tâm. Sáu nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược gồm: Mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt (LLM), AI camera, robot di động tự hành, mạng di động 5G, hạ tầng blockchain và thiết bị bay không người lái (UAV) được xác định là những lĩnh vực ưu tiên, có khả năng tạo đột phá và lan tỏa rộng trong nền kinh tế số.

Để phát triển các lĩnh vực này, các cơ quan quản lý đã đặt ra hệ thống tiêu chí chặt chẽ đối với doanh nghiệp tham gia, hướng tới mục tiêu không chỉ phát triển sản phẩm, mà quan trọng hơn là làm chủ công nghệ lõi. Theo đó, doanh nghiệp phải đảm bảo năng lực nghiên cứu và triển khai toàn diện, từ thiết kế, tích hợp, chế tạo đến thử nghiệm và đưa vào ứng dụng thực tế. Một yêu cầu mang tính quyết định là phải làm chủ tối thiểu 80% công nghệ lõi, đồng thời sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương các nước tiên tiến, có khả năng cạnh tranh quốc tế và sẵn sàng chuyển giao.

Song song với năng lực công nghệ, yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa được xác định là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm tính tự chủ của nền kinh tế. Các sản phẩm công nghệ chiến lược phải đạt tối thiểu 60% giá trị gia tăng nội địa trong giá bán và 40% trong giá thành sản phẩm. Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình gia công, lắp ráp sang phát triển sản phẩm "Make in VietNam", nâng cao giá trị nội địa và giảm phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài.

Mở cơ chế đột phá, hình thành doanh nghiệp công nghệ dẫn dắt- Ảnh 1.

Xây dựng lực lượng doanh nghiệp công nghệ nền tảng cạnh tranh quốc gia.

Không dừng lại ở thị trường trong nước, các doanh nghiệp còn được định hướng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các sản phẩm, mô-đun công nghệ phải có hàm lượng giá trị gia tăng cao, có khả năng thương mại hóa và thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời đáp ứng tối thiểu 30% nhu cầu thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu. Điều này không chỉ giúp mở rộng không gian phát triển, mà còn góp phần nâng cao vị thế công nghệ của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Một tiêu chí quan trọng khác là năng lực về khoa học và sở hữu trí tuệ. Theo yêu cầu, tối thiểu 60% nhiệm vụ nghiên cứu của doanh nghiệp phải có đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được chấp nhận, và 100% kết quả nghiên cứu phải được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín. Đây là cơ sở để bảo đảm tính bền vững của hoạt động nghiên cứu, đồng thời nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và bảo vệ tài sản trí tuệ.

Song hành với các tiêu chí khắt khe là hệ thống cơ chế hỗ trợ mang tính đột phá, được thiết kế nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tăng tốc phát triển và nâng cao tính bền vững. Trước hết là ưu tiên nguồn lực tài chính, với kinh phí được bố trí trong tổng chi ngân sách cho khoa học và công nghệ, kết hợp với các chính sách hỗ trợ lãi suất vay và các công cụ tài chính như voucher cho hoạt động đổi mới công nghệ và đăng ký sở hữu trí tuệ.

Một điểm nhấn quan trọng là cơ chế "Nhà nước đặt hàng", trong đó Nhà nước đóng vai trò là khách hàng đầu tiên, trực tiếp đặt hàng các nhiệm vụ, sản phẩm công nghệ chiến lược. Cách tiếp cận này không chỉ giúp doanh nghiệp có đầu ra ổn định, mà còn định hướng rõ ràng các bài toán cần giải quyết, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp được hỗ trợ khai thác các nguồn dữ liệu từ Trung tâm dữ liệu quốc gia và các hệ thống dữ liệu dùng chung, đồng thời được tiếp cận các hạ tầng nghiên cứu hiện đại như phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thử nghiệm và hạ tầng tính toán hiệu năng cao. Việc chia sẻ hạ tầng giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu, tạo điều kiện để doanh nghiệp tập trung nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm.

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cũng được triển khai nhằm tháo gỡ các rào cản pháp lý đối với công nghệ mới, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm trong môi trường thực tế trước khi hoàn thiện khung pháp lý. Đồng thời, các chính sách hỗ trợ nhân lực chất lượng cao, bao gồm cơ chế tuyển chọn tổng công trình sư và các chương trình đào tạo chuyên sâu, sẽ góp phần hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng dẫn dắt các dự án công nghệ chiến lược.

Với hệ thống tiêu chí rõ ràng và cơ chế hỗ trợ đồng bộ, mục tiêu đến năm 2030 là hình thành tối thiểu 30 doanh nghiệp dẫn dắt và 100 doanh nghiệp phụ trợ, tham gia sâu vào hệ sinh thái công nghệ chiến lược quốc gia. Đây không chỉ là bước đi cụ thể hóa Nghị quyết 57, mà còn là nền tảng để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ lõi, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trong kỷ nguyên số.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
icon Xem theo ngày

Cổng thông tin điện tử các đơn vị thuộc Bộ

Doanh nghiệp

Top