Bách hợp là cây dược liệu có tên khoa học Lilium brownii, phần thân hành được sử dụng làm dược liệu với tên Bulbus Lilii trong các tài liệu chuyên môn của Bộ Y tế.
Việc chủ động nguồn giống và xây dựng quy trình canh tác thống nhất có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng kiểm soát chất lượng nguyên liệu, nhất là khi ngành dược ngày càng đặt ra yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc và chuẩn hóa vùng trồng.
Theo kết quả nhiệm vụ “Sản xuất thử nghiệm giống và dược liệu từ nguồn gen Bách Hợp”, mã số NVQG-2021/DA.05, nhóm thực hiện đã tập trung hoàn thiện đồng thời hai khâu: Sản xuất giống từ nguồn gen và sản xuất dược liệu theo hướng GACP-WHO. Đây là nhiệm vụ thuộc Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Hình minh hoạ.
Nhân giống dược liệu Bách hợp bằng công nghệ nuôi cấy mô
Một trong những kết quả đáng chú ý là hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống Bách hợp bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào in vitro. Công nghệ này tạo điều kiện nhân nhanh nguồn giống, chủ động số lượng cây phục vụ sản xuất và từng bước kiểm soát tính đồng đều của vật liệu đầu vào.
Từ quy trình nghiên cứu, nhiệm vụ xây dựng mô hình sản xuất giống Bách hợp với công suất 300.000 cây giống mỗi năm, gồm khu duy trì cây giống gốc, phòng công nghệ tế bào thực vật và khu vực vườn ươm.
Song song với khâu giống, quy trình kỹ thuật sản xuất dược liệu Bách hợp theo hướng dẫn GACP-WHO cũng được hoàn thiện. Mô hình vùng trồng có diện tích 3 ha, hồ sơ đề nghị công nhận GACP-WHO đã được Bộ Y tế tiếp nhận; năng suất theo mục tiêu mô hình đạt khoảng 0,8-1 tấn dược liệu khô/ha. Nhiệm vụ đồng thời tạo ra 500 kg dược liệu Bách hợp đạt tiêu chuẩn cơ sở.
Tạo nền tảng chuẩn hóa vùng nguyên liệu Bách hợp
Điểm đáng chú ý của nhiệm vụ không chỉ là mở rộng diện tích trồng mà còn xây dựng đồng bộ quy trình kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng. Báo cáo kết quả cho thấy nhóm đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho cây giống và dược liệu Bách hợp, đồng thời nâng cấp chỉ tiêu kiểm nghiệm dược liệu so với Dược điển Việt Nam V nhằm tăng khả năng kiểm soát chất lượng nguyên liệu.
Việc chuẩn hóa từ giống, quy trình canh tác đến sản phẩm đầu ra giúp hình thành chuỗi sản xuất có khả năng kiểm soát tốt hơn về nguồn gốc và chất lượng. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp dược chủ động hơn về nguyên liệu trong nước, giảm rủi ro do nguồn cung không ổn định và tạo điều kiện nhân rộng mô hình tại những vùng có điều kiện sinh thái phù hợp.
Theo báo cáo tự đánh giá, mô hình còn tạo việc làm cho lao động địa phương và ghi nhận giá trị thu nhập khoảng 298,1 triệu đồng/ha/chu kỳ trồng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng công nghệ nhân giống kết hợp chuẩn hóa quy trình sản xuất có thể tạo nền tảng phát triển vùng dược liệu Bách hợp theo hướng quy mô, kiểm soát chất lượng và gắn với nhu cầu nguyên liệu của ngành dược.

