Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Muốn thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam phải làm chủ công nghệ biển sâu

Thứ sáu, 21/08/2026 21:00

Chỉ khoảng 7,5% diện tích biển Việt Nam được điều tra địa chất chi tiết ở tỷ lệ 1:100.000. Khoảng trống về dữ liệu, hạ tầng và công nghệ đặt ra yêu cầu tổ chức lại năng lực nghiên cứu biển theo những bài toán lớn của quốc gia.

Tại hội thảo triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, ngày 21/8/2026 tại Khánh Hòa, các nhà khoa học, cơ quan quản lý và doanh nghiệp tập trung thảo luận cách chuyển tri thức, dữ liệu thành năng lực công nghệ thực tế trên biển.

Dữ liệu biển còn mỏng, hạ tầng nghiên cứu thiếu

Trình bày báo cáo đề dẫn, TS. Trần Quốc Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên, Bộ KH&CN, cho rằng Nghị quyết 20 đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí kiến tạo nền tảng cho quốc gia biển mạnh.

Việt Nam phải chuyển từ tư duy chủ yếu khai thác tài nguyên sang quản trị biển hiện đại; từ ứng dụng sang từng bước làm chủ công nghệ; đồng thời nâng cao khả năng nghiên cứu, hoạt động tại vùng biển xa, biển sâu và những không gian phát triển mới.

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu hình thành 2 - 3 tổ chức nghiên cứu biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN; phát triển chuỗi công nghiệp, dịch vụ cáp ngầm biển và trung tâm dữ liệu; bảo đảm người dân trên các đảo có dân cư được tiếp cận điện, nước sạch, internet băng rộng cùng dịch vụ y tế, giáo dục.

Tuy nhiên, dữ liệu điều tra cơ bản biển hiện còn mỏng, thiếu chi tiết và nằm phân tán tại nhiều cơ quan. Hạ tầng dữ liệu số chưa liên thông, trong khi Việt Nam thiếu tàu nghiên cứu biển sâu, robot tự hành và thiết bị ngầm. Năng lực khảo sát, quan trắc biển sâu còn hạn chế; mạng lưới viện, trường thiếu liên kết, doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào chuỗi đổi mới sáng tạo.

Muốn thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam phải làm chủ công nghệ biển sâu- Ảnh 1.

TS Trần Quốc Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học xã hội và Tự nhiên.

Theo TS. Trần Quốc Cường, nghiên cứu biển không thể tiếp tục chia cắt theo từng lĩnh vực, địa bàn hoặc chương trình riêng lẻ. Các nhiệm vụ cần được tổ chức thành những “đơn hàng công nghệ lớn”, đủ sức kết nối viện, trường, doanh nghiệp và địa phương, tạo ra sản phẩm có thể kiểm chứng, ứng dụng và thương mại hóa.

Năm hướng công nghệ được đề xuất ưu tiên đến năm 2030 gồm khảo sát biển sâu và đáy biển; lưu trữ carbon tại các cấu trúc địa chất ngoài khơi; công nghệ sinh học biển; nuôi trồng thủy sản xa bờ có khả năng chịu bão; năng lượng tái tạo từ gió ngoài khơi và sóng biển.

Xây dựng bản sao số biển

PGS.TS. Nguyễn Như Trung, Viện Các khoa học về Trái đất, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, cho biết dữ liệu biển hiện được nhiều cơ quan thu thập theo các tiêu chuẩn khác nhau, nhưng chưa có hạ tầng tích hợp và chia sẻ thống nhất.

Mạng lưới quan trắc ở vùng sâu, xa bờ còn thưa, thiếu chuỗi số liệu dài hạn và thông tin theo thời gian thực. Nhiều khu vực chưa được điều tra đầy đủ, đồng bộ về hải dương học, sinh học, môi trường, địa chất, địa vật lý và tài nguyên. Việt Nam cũng còn phụ thuộc vào thiết bị, công nghệ khảo sát biển sâu của nước ngoài.

Theo PGS.TS. Nguyễn Như Trung, nền tảng khoa học biển cần vận hành theo một chu trình khép kín. Dữ liệu từ điều tra cơ bản và quan trắc được đưa vào kho dùng chung, sau đó phục vụ mô hình hóa, dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Kết quả phân tích tiếp tục chỉ ra những khoảng trống cần khảo sát, bổ sung.

Nguồn dữ liệu này không chỉ đến từ tàu nghiên cứu và các trạm ven bờ, mà còn được thu nhận qua vệ tinh, radar, phao thông minh, cảm biến đáy biển, thiết bị tự hành và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Khi được chuẩn hóa, tích hợp và cập nhật liên tục, dữ liệu có thể tạo nên bản sao số biển, cho phép mô phỏng các kịch bản phục vụ dự báo, cảnh báo thiên tai, quy hoạch không gian biển và ứng phó sự cố.

Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam đang chuẩn bị Chương trình nghiên cứu biển giai đoạn 2026 - 2035, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia, ngân hàng gen DNA/eDNA sinh vật biển, mạng quan trắc dài hạn và bản sao số biển.

Công nghệ thu thập dữ liệu ở biển sâu cũng được đặt ra. Ông Mark Lê, đại diện Advanced Navigation tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cho biết tín hiệu định vị vệ tinh không hoạt động dưới mặt biển. Các thiết bị ROV và AUV vì thế phải kết hợp định vị quán tính, định vị thủy âm, cảm biến chuyển động và phần mềm dẫn đường.

Đây là nền tảng phục vụ khảo sát đáy biển, kiểm tra cáp ngầm, công trình dầu khí và các hoạt động thủy sản, nuôi trồng. Làm chủ biển sâu vì thế không chỉ là chế tạo phương tiện, mà còn phải phát triển cảm biến, thuật toán và khả năng tích hợp hệ thống.

Cần khu thử nghiệm công nghệ trên biển

Đại tá, TS. Phạm Duy Nam, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, Bộ Quốc phòng, cho rằng tự chủ trên biển không có nghĩa phải tự làm mọi thứ, mà là làm chủ những năng lực thiết yếu để hoạt động ổn định, dài ngày và giảm phụ thuộc vào tiếp tế từ đất liền.

Trong điều kiện biển, đảo xa, những nhu cầu cơ bản như điện, nước sạch, vật liệu, bảo quản thực phẩm, xử lý chất thải hay sửa chữa thiết bị đều trở thành bài toán công nghệ.

Một hướng nghiên cứu được Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đưa ra là sử dụng cát biển hoặc cát nhiễm mặn, nước biển và nguồn vật liệu hợp pháp tại chỗ để chế tạo cấu kiện xây dựng. Nếu đáp ứng yêu cầu về độ bền và bảo vệ hệ sinh thái, giải pháp có thể giảm lượng vật liệu phải vận chuyển từ đất liền, hỗ trợ xây dựng, sửa chữa công trình trên đảo và ven biển.

Muốn thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam phải làm chủ công nghệ biển sâu- Ảnh 2.

Đại tá, TS. Phạm Duy Nam, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, Bộ Quốc phòng.

Theo Đại tá, TS. Phạm Duy Nam, Việt Nam đã có tàu nghiên cứu, trạm quan trắc, phòng thí nghiệm, thiết bị, dữ liệu và chuyên gia tại nhiều cơ quan, nhưng các nguồn lực này còn phân tán. Vì vậy, cần lập bản đồ năng lực KH-CN biển quốc gia, xác định rõ hạ tầng có thể dùng chung và thiết lập cơ chế chuyển giao công nghệ hai chiều giữa dân sự với quốc phòng.

Việt Nam cũng cần hình thành các khu vực thử nghiệm công nghệ trên biển, đảo để robot, vật liệu và thiết bị mới được vận hành trong điều kiện thực tế. Quá trình này giúp đánh giá, hoàn thiện sản phẩm và kiểm soát rủi ro trước khi đưa vào ứng dụng rộng rãi.

Nhân lực biển phải có năng lực liên ngành

Theo GS.TS. Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2026 có 13 cơ sở đào tạo các ngành liên quan đến biển. Số lượt ngành tuyển sinh tăng từ 37 lên 44, lượng thí sinh trúng tuyển tăng từ 4.437 lên 5.153.

Dù đã có chuyển biến, quy mô đào tạo vẫn nhỏ và các chương trình còn phân tán giữa hàng hải, đóng tàu, thủy sản, khoa học biển, môi trường, logistics và du lịch. Trong khi đó, những bài toán trên biển ngày càng đòi hỏi kiến thức liên ngành.

GS.TS. Nguyễn Tiến Thảo cho rằng, khoảng trống lớn nhất không nằm ở số ngành được mở, mà ở cấu trúc năng lực. Nhân lực biển trong giai đoạn mới phải kết hợp chuyên môn với dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, ngoại ngữ, an toàn và pháp luật quốc tế.

Muốn thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam phải làm chủ công nghệ biển sâu- Ảnh 3.

GS.TS. Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đào tạo cần gắn với nhu cầu nhân lực của từng vùng kinh tế, cảng biển, dự án năng lượng ngoài khơi, cơ sở nuôi biển và doanh nghiệp logistics. Tàu nghiên cứu, phòng thí nghiệm, hệ thống mô phỏng và trại nuôi biển cũng cần được chia sẻ giữa các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

Hiệu quả đào tạo không nên chỉ được đo bằng số người tốt nghiệp, mà cần đánh giá qua khả năng tìm việc, thu nhập, chứng chỉ nghề, năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và sản phẩm giải quyết bài toán thực tế.

Khánh Hòa xây dựng bản đồ dữ liệu kinh tế biển

Ông Đào Xuân Kỳ, Phó Giám đốc phụ trách Sở KH&CN tỉnh Khánh Hòa, cho biết địa phương định hướng xây dựng bản đồ dữ liệu kinh tế và đô thị biển, làm cơ sở phục vụ quy hoạch, quản lý và thu hút đầu tư.

Khánh Hòa cũng hướng tới chuyển đổi số, xanh hóa hoạt động cảng và xây dựng nền tảng dữ liệu logistics cảng biển tích hợp. Các hướng công nghệ được ưu tiên gồm tự động hóa chế biến thủy sản, chỉnh sửa gen trong chọn tạo giống, vắc xin thủy sản, thiết bị tự hành ROV phục vụ điều tra biển sâu và công nghệ thiết kế, mô phỏng kết cấu điện gió ngoài khơi.

Tỉnh cũng đề xuất xây dựng Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương, dựa trên hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học và năng lực khoa học biển hiện có tại địa phương.

Muốn thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam phải làm chủ công nghệ biển sâu- Ảnh 4.

Trong khuôn khổ Hội thảo đã diên ra Toạ đàm: “Từ định hướng đến hành động của Bộ KH&CN trong triển khai Nghị quyết về quốc gia biển mạnh”. Ý kiến các diễn giả đều cho thấy quốc gia biển mạnh không thể được tạo nên từ một thiết bị hay đề tài riêng lẻ. Việt Nam cần hình thành chuỗi năng lực liên tục, từ điều tra cơ bản, dữ liệu và nhân lực đến nghiên cứu, thử nghiệm, làm chủ công nghệ và đưa sản phẩm vào thực tế.

Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm