Theo Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN, ngân sách nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược do Nhà nước đặt hàng; nhiệm vụ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng hoặc công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, quốc phòng, an ninh. Những nhiệm vụ có mức độ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng thuộc nhóm có thể được hỗ trợ tới 100%.
Với các nhiệm vụ hướng tới phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70% kinh phí thực hiện. Phần còn lại do tổ chức chủ trì và các tổ chức, cá nhân tham gia bố trí kinh phí đối ứng.
Mức hỗ trợ cụ thể được xem xét dựa trên mục tiêu làm chủ công nghệ, giai đoạn phát triển, mức độ rủi ro, khả năng huy động nguồn lực xã hội, triển vọng thương mại hóa và mức đóng góp đối với năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Một điểm mới đáng chú ý là kinh phí đối ứng không nhất thiết chỉ bằng tiền. Doanh nghiệp, tổ chức tham gia có thể tính vào phần đối ứng giá trị máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, hạ tầng kỹ thuật được sử dụng trực tiếp cho nhiệm vụ; quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng công nghệ, phần mềm và tài sản vô hình hợp pháp; cũng như chi phí nhân lực trực tiếp được chi trả từ nguồn kinh phí hợp pháp ngoài phần ngân sách nhà nước hỗ trợ. Quy định này mở rộng đáng kể khả năng tham gia của doanh nghiệp vào các nhiệm vụ công nghệ lớn.
Cách quản lý tiền cũng thay đổi theo hướng bám vào kết quả và các mốc đánh giá, thay vì chỉ theo từng khoản chi. Kinh phí được cấp, thanh toán và quyết toán căn cứ kết quả đạt được tại từng mốc; kết quả của mốc trước là cơ sở để tiếp tục cấp kinh phí cho giai đoạn sau.
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN còn cho phép một nhiệm vụ công nghệ chiến lược được triển khai bằng nhiều phương án nghiên cứu độc lập do từ hai tổ chức, doanh nghiệp trở lên cùng thực hiện để hướng đến một mục tiêu chung. Mỗi phương án được quản lý và quyết toán riêng theo kết quả đạt được.
Quyền chủ động của tổ chức chủ trì cũng được mở rộng. Đơn vị thực hiện được điều chỉnh kinh phí giữa các nội dung trong cùng gói công việc hoặc giữa các gói thuộc cùng một mốc đánh giá; được điều chỉnh tiến độ bố trí vốn đối ứng và sử dụng kinh phí dự phòng trong phạm vi dự toán đã được phê duyệt, miễn không làm thay đổi tổng mức ngân sách nhà nước, tỷ lệ đối ứng và vẫn bảo đảm sản phẩm đầu ra.
Trong mua sắm, thuê thiết bị, máy móc, hàng hóa và dịch vụ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ, tổ chức chủ trì được tự quyết định lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình, đồng thời phải bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và tuân thủ pháp luật về đấu thầu cùng các quy định liên quan.
Một cơ chế được xem là đáng chú ý đối với hoạt động nghiên cứu mạo hiểm là xử lý rủi ro tài chính. Trường hợp nhiệm vụ được xác định thuộc diện rủi ro được chấp nhận theo quy định, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả phần kinh phí ngân sách nhà nước đã sử dụng đúng mục tiêu, đúng nội dung, phạm vi và quy định. Việc hoàn trả chỉ đặt ra đối với phần kinh phí sử dụng sai mục đích hoặc trái quy định pháp luật.
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN có hiệu lực từ ngày 01/8/2026. Với cơ chế tài trợ tới 100%, cho phép nhiều phương án nghiên cứu chạy song song, quản lý kinh phí theo mốc kết quả và chấp nhận rủi ro hợp lý, Thông tư tạo một cơ chế tài chính linh hoạt hơn cho những nhiệm vụ công nghệ có độ khó, chi phí và mức độ bất định cao - những đặc trưng vốn có của quá trình làm chủ công nghệ chiến lược.

