Kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ được triển khai trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân đang tập trung thực hiện các nghị quyết mang tầm lý luận mới như Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024 về đột phá phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân; đồng thời tham gia góp ý xây dựng dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng và triển khai Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025. Với phương pháp tiếp cận liên ngành và sử dụng nhiều công cụ nghiên cứu hiện đại, đề tài đã đóng góp nhiều luận cứ mới cả về lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách phát triển nhân lực KH&CN.
Phát triển nguồn nhân lực khoa học trẻ trong doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng yêu cầu phát triển mới của doanh nghiệp và đất nước.
Một trong những điểm nhấn nổi bật của nghiên cứu là khẳng định triết lý phát triển hiện nay phải đặt nhân lực ngang hàng với công nghệ. Trong bối cảnh các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, dữ liệu lớn, an ninh mạng, công nghệ sinh học và năng lượng tái tạo đang tạo ra bước ngoặt toàn cầu, việc phát triển nhân lực KH&CN trẻ trở thành yếu tố tiên quyết để Việt Nam làm chủ công nghệ và tránh rơi vào tình trạng "thừa máy móc, thiếu trí tuệ", "thừa công nghệ, thiếu nhân lực".
Theo nhóm nghiên cứu, đầu tư cho con người chính là đầu tư cho nền tảng lâu dài của tự chủ công nghệ và phát triển lực lượng sản xuất mới, hài hòa giữa Con người - Công nghệ - Sản xuất, kinh doanh.
Khảo sát thực trạng cho thấy năng lực KH&CN của doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay còn nhiều hạn chế. Chỉ dưới 5% doanh nghiệp có bộ phận nghiên cứu - phát triển (R&D), trong khi tỷ lệ đầu tư cho KH&CN chưa đến 1% doanh thu. Đội ngũ nhân lực trẻ có trình độ chuyên môn cao còn thiếu và chưa được sử dụng hiệu quả.
Một trong những nguyên nhân quan trọng là thiếu cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút, phát triển và giữ chân nhân lực KH&CN trẻ trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chưa tạo ra môi trường làm việc thuận lợi để nhân lực trẻ phát huy năng lực sáng tạo; các chính sách hiện hành khi triển khai còn phân tán, chồng chéo và thiếu khung pháp lý riêng cho nhân lực KH&CN nói chung và nhân lực trẻ nói riêng. Sự thiếu liên kết hiệu quả giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cũng khiến hệ sinh thái KH&CN chưa phát huy được vai trò trung tâm của nhân lực KH&CN.
Từ những phân tích lý luận và kinh nghiệm quốc tế, đề tài đề xuất một hệ thống giải pháp nhằm phát triển mạnh mẽ nhân lực KH&CN trẻ trong giai đoạn 2025-2030. Trước hết, cần khẳng định rõ quan điểm phát triển nhân lực ngang hàng với phát triển công nghệ, xem nhân lực KH&CN trẻ là lực lượng trung tâm thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ khu vực hàn lâm sang khu vực sản xuất - kinh doanh. Việc đầu tư vào đội ngũ này không chỉ giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ mà còn tạo nền tảng để làm chủ các công nghệ chiến lược đang định hình tương lai kinh tế số và kinh tế tri thức.
Đề tài đề xuất thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động R&D trong doanh nghiệp, tăng tỷ lệ doanh nghiệp có bộ phận R&D lên ít nhất 40% vào năm 2030. Đồng thời, cần hình thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo liên kết vùng để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, dễ dàng tiếp cận hạ tầng nghiên cứu, vốn đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một khuyến nghị quan trọng khác là xây dựng Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia với sự tham gia đồng bộ của Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - các tổ chức trung gian, trong đó nhân lực KH&CN trẻ đóng vai trò trung tâm. Hệ sinh thái này sẽ bao gồm các cụm đổi mới sáng tạo, mạng lưới chuyên gia trẻ, chương trình cố vấn công nghệ và sàn giao dịch ý tưởng công nghệ, nơi các nhà khoa học trẻ, kỹ sư và doanh nhân công nghệ được trao cơ hội thử nghiệm, sáng tạo và được bảo vệ bằng cơ chế chính sách phù hợp.
Một trong những giải pháp quan trọng khác mà đề tài đề xuất là xây dựng Quỹ hỗ trợ nhân lực KH&CN trẻ, hoạt động theo mô hình xã hội hóa nhằm hỗ trợ đào tạo, phát triển chuyên môn và tạo động lực sáng tạo cho đội ngũ trẻ. Đây sẽ là nguồn lực quan trọng để các doanh nghiệp tuyển dụng, bồi dưỡng và giữ chân nhân lực chất lượng cao.
Quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng mang lại những đóng góp quan trọng trong đào tạo và nâng cao năng lực nghiên cứu. Hơn 30 tiến sĩ và 50 thạc sĩ, cử nhân thuộc nhiều chuyên ngành như quản lý KH&CN, kinh tế học, xã hội học, luật học, khoa học lao động… đã tham gia hoạt động điều tra, khảo sát, phân tích mô hình và xây dựng dự thảo đề án. Qua đó, năng lực tổ chức nghiên cứu và quản lý khoa học của các cơ quan chủ trì, phối hợp được tăng cường đáng kể, tạo nền tảng cho việc tiếp tục đề xuất chính sách lên Chính phủ về tuyển chọn và bố trí nhân lực KH&CN trẻ trong DNVVN giai đoạn 2021-2030.
Từ góc độ kinh tế, các giải pháp mà đề tài đưa ra góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN trẻ trong doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy đổi mới công nghệ, gia tăng năng lực sản xuất - kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh cho DNVVN. Kết nối giữa viện - trường - doanh nghiệp được củng cố sẽ giúp đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.
Ở góc độ xã hội, kết quả nghiên cứu đóng góp vào hệ thống lý luận của các ngành khoa học như quản lý KH&CN, khoa học tổ chức, xã hội học, kinh tế học…, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu đáng tin cậy cho công tác giảng dạy và đào tạo chuyên gia. Đặc biệt, các đề xuất của nghiên cứu về mô hình và cơ chế phát triển nhân lực KH&CN trẻ sẽ thúc đẩy thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp về vai trò của đầu tư công nghệ, R&D và nhân lực trẻ trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
Với những luận cứ khoa học vững chắc và các giải pháp mang tính khả thi cao, nhiệm vụ ĐTĐLXH.07/22 đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng chính sách phát triển nhân lực KH&CN trẻ trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo nền tảng cho tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và công nghệ. Đây là lực lượng sẽ đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy năng lực sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.