Đóng góp chủ lực trong hệ thống khoa học và công nghệ quốc gia
Hiện nay, các đơn vị gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP.HCM, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (gọi tắt là khối 4V) đang nắm giữ phần lớn nguồn lực nghiên cứu cốt lõi của đất nước. Đây là những trung tâm tập trung đội ngũ chuyên gia đầu ngành, sở hữu hạ tầng nghiên cứu đặc thù và mạng lưới hợp tác quốc tế rộng khắp.
Theo số liệu tổng hợp, khối 4V hiện đảm nhiệm tới 72% đào tạo tiến sĩ của cả nước, cung cấp nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao cho hệ thống giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Khoảng 50% công bố quốc tế thuộc nhóm WoS/Scopus Q1, Q2 xuất phát từ các đơn vị này. Đặc biệt, nhiều công nghệ lõi như vaccine, vật liệu nano, bán dẫn, cảm biến thông minh… đang được làm chủ tại các PTNTĐ thuộc khối 4V.
Riêng tại Đại học Quốc gia Hà Nội, theo quy hoạch phát triển, hệ thống có 207 phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu; 1 PTNTĐ cấp quốc gia, 7 PTNTĐ cấp đại học quốc gia cùng 50 nhóm nghiên cứu mạnh.
Tám lĩnh vực công nghệ ưu tiên giai đoạn 2025-2035 tập trung vào sinh học, vật liệu, chip bán dẫn, chuyển đổi số, môi trường và năng lượng tái tạo. Đây là nền tảng để hình thành các sản phẩm mũi nhọn, gắn nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp và địa phương.

Hệ thống thiết bị hiện đại tại các Phòng thí nghiệm trọng điểm đang được khai thác phục vụ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
Ở chiều ngược lại, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện có 4 PTNTĐ chuyên sâu, song nhiều thiết bị được đầu tư từ những năm 2000, đối mặt với nguy cơ lạc hậu nhanh trong bối cảnh chu kỳ công nghệ rút ngắn còn 3-5 năm. Trong khi đó, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam lại chưa có mô hình PTNTĐ đặc thù cho lĩnh vực xã hội, đặt ra yêu cầu cấp thiết về một "Phòng thí nghiệm chính sách" dựa trên dữ liệu lớn và mô phỏng xã hội.
Mô tình phân tích chiến lược (SWOT) cho thấy, dù khối 4V có nội lực mạnh về chất xám, hạ tầng đặc thù và uy tín quốc tế, nhưng lại đối mặt với điểm yếu về cơ chế nhân sự, phụ thuộc tới 90% ngân sách nhà nước, thủ tục hành chính phức tạp. Trong khi đó, cơ hội từ nhu cầu R&D tăng vọt của doanh nghiệp, xu hướng chip bán dẫn, AI, hydrogen xanh đang mở ra không gian phát triển mới.
Mô hình "mở" và Sandbox: Lời giải cho PTNTĐ
Trước những thách thức đó, một mô hình PTNTĐ theo cơ chế "mở" đang được đề xuất. Theo đó, thiết bị được chia sẻ dùng chung giữa các đơn vị trong khối 4V; mở cửa cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp; miễn, giảm phí cho startup và nghiên cứu sinh.
Song song, mô hình Sandbox cho phép PTNTĐ tự chủ nhân sự, ký hợp đồng chuyên gia theo lương thị trường; liên kết công - tư trong khai thác thiết bị; giữ lại nguồn thu để tái đầu tư thông qua quỹ phát triển sự nghiệp. Khi đó, PTNTĐ sẽ thực sự vận hành như một Center of Excellence - trung tâm xuất sắc, gắn kết chặt chẽ trong mô hình liên kết 3 nhà: Nhà nước kiến tạo chính sách, khối 4V thực thi R&D, doanh nghiệp thương mại hóa sản phẩm.
Đối với lĩnh vực khoa học xã hội, việc xây dựng "Phòng thí nghiệm chính sách" dựa trên Big Data và công nghệ mô phỏng là bước đi đột phá. Thay vì "ống nghiệm và hóa chất", khối xã hội cần hạ tầng dữ liệu kinh tế - xã hội, công cụ phân tích hành vi và mô hình giả lập để thử nghiệm chính sách trước khi ban hành thực tế.
Một đề xuất quan trọng khác là chuyển từ cơ chế cấp phát sang đầu tư theo KPI. Ngân sách sẽ gắn với chỉ số đầu ra cụ thể: Số công bố quốc tế trên mỗi tỷ đồng đầu tư; tỷ lệ bài báo Q1/Q2; số bằng sáng chế; tỷ lệ thương mại hóa IP; doanh thu từ chuyển giao; hiệu suất sử dụng hạ tầng.
Bốn nhóm chỉ số gồm: Research Output Index (khoa học), IP & Tech Transfer Index (công nghệ), Science-to-Business Index (kinh tế) và Infrastructure Efficiency Index (hạ tầng). Cùng với đó là cơ chế giám sát bởi hội đồng quốc tế 3 năm/lần, dashboard theo dõi thời gian thực và kiểm toán độc lập định kỳ nhằm bảo đảm minh bạch tài chính.

Hoạt động nghiên cứu trong phòng sạch công nghệ cao mở ra khả năng hợp tác công - tư, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Lộ trình triển khai được chia làm ba giai đoạn: Năm 2025 chuẩn bị, lựa chọn PTN mũi nhọn và xây dựng Sandbox; giai đoạn 2026-2027 thí điểm vận hành KPI mới và Policy Lab; giai đoạn 2028-2030 nhân rộng mô hình, hướng tới tự chủ bền vững.
Mục tiêu đến năm 2030 là tái cấu trúc nguồn thu: 40% từ ngân sách đầu tư hạ tầng và nghiên cứu cơ bản; 35% từ dịch vụ và hợp đồng doanh nghiệp; 25% từ IP và spin-off công nghệ. Khi đó, PTNTĐ sẽ không chỉ là nơi tạo ra tri thức, mà còn là động cơ tăng trưởng kinh tế dựa trên khoa học.
Đổi mới không chỉ là cấp thêm kinh phí, mà là trao quyền tự chủ, thiết lập cơ chế cạnh tranh minh bạch để trí tuệ Việt Nam tỏa sáng.
Với quyết tâm đi đầu, chấp nhận rủi ro thí điểm mô hình mới, khối 4V đang đứng trước cơ hội lịch sử để trở thành hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, góp phần đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

