Nghị quyết số 86/NQ-CP của Chính phủ về Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo đã tạo nền tảng chính sách nhằm đưa khởi nghiệp sáng tạo trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để các mục tiêu của Chiến lược được hiện thực hóa, chính sách cần nhanh chóng được chuyển thành môi trường thử nghiệm, sản phẩm, mô hình kinh doanh và giá trị cụ thể.
PGS.TS, Nguyễn Thị Minh Nhàn, Trưởng phòng Quản lý khoa học và đối ngoại, Trường Đại học Thương mại, một chính sách có khả năng tạo chuyển biến nhanh và rõ nét nhất cho hệ sinh thái là hoàn thiện thể chế và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, chấp nhận rủi ro trong đổi mới sáng tạo.
Đây là chính sách có tính chất đòn bẩy, tạo hiệu ứng lan tỏa tới các chủ thể trong hệ sinh thái. Vốn đầu tư mạo hiểm chỉ tìm đến khi môi trường pháp lý minh bạch, ổn định; hoạt động đào tạo khởi nghiệp chỉ phát huy tác dụng khi người học có cơ hội thử nghiệm, thương mại hóa ý tưởng; hạ tầng đổi mới sáng tạo cũng khó phát huy hiệu quả nếu quy định hiện hành chưa cho phép các mô hình mới vận hành.

Cơ chế thử nghiệm được triển khai thực chất sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách từ ý tưởng đến thị trường.
Cơ chế thử nghiệm được triển khai thực chất sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách từ ý tưởng đến thị trường. Các mô hình mới có thể được thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và nhóm đối tượng xác định; qua đó giúp cơ quan quản lý đánh giá tác động, đồng thời giảm rủi ro chính sách cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Cũng liên quan đến vấn đề này, theo ông Hoàng Mạnh Trung, Tổng Giám đốc Công ty CP Fumee Tech, Phó Chủ tịch Câu lạc bộ Đầu tư và Khởi nghiệp doanh nhân trẻ Việt Nam, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát là cách tiếp cận cân bằng giữa đổi mới và quản lý.
Đối với những mô hình mới trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính và tài sản số, nếu chờ đầy đủ quy định mới cho phép triển khai, Việt Nam có thể chậm hơn so với thế giới; nhưng nếu buông lỏng hoàn toàn sẽ phát sinh rủi ro đối với xã hội.
Theo đó, cơ chế thử nghiệm cần xác định rõ 3 nội dung: Phạm vi thử nghiệm, thời gian thực hiện, nhóm khách hàng và tiêu chí đánh giá; cơ chế bảo vệ dữ liệu, quyền lợi của các bên và minh bạch thông tin; đầu ra chính sách sau thử nghiệm. Nếu mô hình chứng minh được tính an toàn, hiệu quả và khả năng tạo giá trị cho thị trường, cần kịp thời xem xét mở rộng.
Bên cạnh thể chế, doanh nghiệp khởi nghiệp cần chủ động biến chính sách thành sản phẩm và mô hình kinh doanh. Startup phải bắt đầu từ những vấn đề có thật của thị trường; sử dụng công nghệ để giảm chi phí, nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm hoặc giải quyết nhu cầu cụ thể của khách hàng.
Doanh nghiệp cũng cần chuẩn hóa quy trình ngay từ đầu, xây dựng mô hình kinh doanh rõ ràng, bảo đảm minh bạch tài chính; quan tâm đến sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; đồng thời tăng cường liên kết với trường đại học, doanh nghiệp lớn, quỹ đầu tư và cơ quan quản lý.
Đối với hoạt động đào tạo, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Nhàn cho rằng, giáo dục không chỉ truyền thụ kiến thức hoặc đào tạo người tìm việc mà phải hình thành năng lực sáng tạo, tinh thần dám thử nghiệm, khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra giá trị mới. Thành công của nhà trường cần được đánh giá thêm bằng số lượng ý tưởng được ươm tạo, kết quả nghiên cứu được thương mại hóa và doanh nghiệp được hình thành từ môi trường đại học.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Hoàng Mạnh Trung cho biết, khoảng cách giữa giáo dục đại học và nhu cầu của doanh nghiệp vẫn tồn tại, dù đã được cải thiện so với trước đây. Đối với khối công nghiệp, doanh nghiệp thường phải dành tối thiểu ba tháng để đào tạo lại nhân sự mới.
Do đó, các trường đại học cần phát triển phòng thí nghiệm mở, trung tâm đổi mới sáng tạo; tạo cơ chế để doanh nghiệp đặt hàng đề tài nghiên cứu và xác định rõ việc chia sẻ lợi ích khi thương mại hóa kết quả. Liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ tạo "vùng đệm" giúp sinh viên tiếp cận thực tiễn sớm hơn và sẵn sàng tham gia thị trường lao động.
Việc rút ngắn khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện của từng chủ thể. Nhà nước kiến tạo môi trường và cơ chế thử nghiệm; cơ sở đào tạo cung cấp tri thức, nhân lực và kết quả nghiên cứu; doanh nghiệp chủ động phát triển sản phẩm, kiểm chứng thị trường và thương mại hóa ý tưởng. Khi các nguồn lực này được kết nối hiệu quả, Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo sẽ có cơ sở chuyển hóa thành những kết quả cụ thể.