Sau gần 15 năm thi hành, Luật Đo lường năm 2011 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập trước những yêu cầu mới của thực tiễn, nhất là trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh phát triển mạnh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, việc sửa đổi Luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân và đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt yêu cầu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật và ít nhất 30% điều kiện kinh doanh. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng được đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Đo lường.
Việc sửa đổi cũng nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường phân cấp, phân quyền, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; đồng thời khắc phục khoảng trống pháp lý trong phân cấp, phân quyền, bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan.
Dự thảo Luật Đo lường (sửa đổi) được xây dựng trên 3 trụ cột chính sách gồm: chuyển đổi số hoạt động đo lường; phát triển năng lực hệ thống đo lường quốc gia và phát huy vai trò doanh nghiệp; phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh.
Trong đó, chuyển đổi số hoạt động đo lường được xác định là một trong những hướng đi quan trọng nhằm hiện đại hóa phương thức quản lý nhà nước.

Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, việc sửa đổi Luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển KH,CN,ĐMST&CĐS.
Dự thảo không chỉ dừng ở việc số hóa các thủ tục hiện hành mà hướng tới chuyển từ phương thức quản lý dựa nhiều vào kiểm soát thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu đo lường, nền tảng số và mức độ rủi ro.
Theo đó, dự thảo bổ sung các quy định về nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung, kết quả đo lường được số hóa, hồ sơ điện tử và quản lý, khai thác dữ liệu trên môi trường số. Trên cơ sở dữ liệu, hoạt động kiểm tra được chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, thực hiện theo mức độ rủi ro.
Cách tiếp cận này được kỳ vọng góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Dữ liệu đo lường cũng được khai thác nhằm hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và quản lý rủi ro trong sản xuất, kinh doanh.
Trụ cột thứ hai là phát triển năng lực hệ thống đo lường quốc gia và phát huy vai trò của doanh nghiệp. Dự thảo bổ sung định hướng phát triển đo lường khoa học, đo lường công nghiệp; nâng cao năng lực hệ thống chuẩn đo lường quốc gia và hạ tầng kỹ thuật đo lường.
Các năng lực đo lường phục vụ công nghệ chiến lược, năng lượng mới, kinh tế số, kinh tế xanh, nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo được ưu tiên.
Dự thảo đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển và khai thác năng lực đo lường, từng bước nâng cao khả năng tự bảo đảm đo lường.
Đáng chú ý, Chương trình bảo đảm đo lường tại tổ chức, doanh nghiệp lần đầu tiên được luật hóa. Đây được xem là công cụ giúp doanh nghiệp kiểm soát quá trình đo lường, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, dự thảo chú trọng phát triển nguồn nhân lực đo lường từ Trung ương đến địa phương và tại doanh nghiệp; tăng cường gắn kết đo lường với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng suất và chất lượng. Cơ chế thừa nhận kết quả đo lường của nước ngoài cũng được hoàn thiện trong trường hợp năng lực trong nước chưa đáp ứng.
Trụ cột thứ ba là phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh.
Dự thảo phân định rõ cơ chế quản lý đối với phương tiện đo nhóm 1 và nhóm 2. Theo đó, dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 1 được thực hiện theo cơ chế tự công bố năng lực, tự chịu trách nhiệm. Đối với phương tiện đo nhóm 2 phục vụ quản lý bắt buộc, Nhà nước thực hiện đánh giá và chỉ định tổ chức đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật.
Dự thảo cũng làm rõ trách nhiệm quản lý phép đo chuyên ngành của các bộ; phân định thẩm quyền kiểm tra giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cơ chế kiểm tra nhà nước về đo lường được hoàn thiện theo hướng dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro, không làm phát sinh thêm đầu mối.
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo Luật là cải cách thủ tục hành chính. Theo đó, dự kiến cắt giảm 8 thủ tục hành chính, góp phần giảm chi phí và thời gian thực hiện cho doanh nghiệp.
Cụ thể, dự thảo đề xuất cắt giảm 3 thủ tục đăng ký hoạt động dịch vụ đối với phương tiện đo nhóm 1 và chuẩn không dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2; 3 thủ tục chứng nhận chuẩn dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2; cùng 2 thủ tục liên quan đến dấu định lượng.
Việc cắt giảm được thực hiện thông qua chuyển sang cơ chế tự công bố năng lực, tự chịu trách nhiệm đối với phương tiện đo nhóm 1; bỏ thủ tục chứng nhận chuẩn công tác; đồng thời xóa bỏ phân loại hàng đóng gói sẵn và thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sử dụng dấu định lượng.
Theo tính toán, các thay đổi này dự kiến giúp giảm hơn 300 triệu đồng chi phí thực hiện mỗi năm, trong khi vẫn duy trì các biện pháp cần thiết để bảo đảm độ chính xác của phép đo, phòng ngừa gian lận thương mại và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
Điểm đáng chú ý trong lần sửa đổi này không chỉ là cắt giảm thủ tục mà còn là sự thay đổi phương thức quản lý, từ kiểm soát riêng lẻ phương tiện đo sang chú trọng bảo đảm độ tin cậy của phép đo và kết quả đo.
Cùng với đó, Nhà nước tiếp tục giữ vai trò đầu tư, kiến tạo và bảo đảm hạ tầng đo lường thiết yếu; đồng thời mở rộng huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò của doanh nghiệp trong phát triển và cung cấp dịch vụ đo lường.