Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Thái Nguyên: Đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi

Ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, mở rộng hạ tầng viễn thông và thúc đẩy chuyển đổi số đang tạo thêm điều kiện để vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi Thái Nguyên phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống. Những kết quả đạt được trong năm 2025 cho thấy vai trò của công nghệ trong khai thác tiềm năng địa phương, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất, nâng cao giá trị nông sản miền núi

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phát triển kinh tế không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên mà còn ở khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. 

Từ các giống cây trồng đặc sản đến phương thức sản xuất, chế biến, việc đưa tiến bộ khoa học, công nghệ vào thực tiễn đang mở ra hướng phát triển mới cho nông nghiệp địa phương.

Năm 2025, tỉnh Thái Nguyên triển khai 130 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, trong đó có 79 nhiệm vụ thuộc lĩnh vực khoa học nông nghiệp, chiếm tỷ trọng lớn nhất. Nhiều nhiệm vụ tập trung vào nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào, sản xuất chế phẩm sinh học, phát triển giống cây đặc sản, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp và phục vụ xây dựng nông thôn mới.

Thái Nguyên: Đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi- Ảnh 1.

Lãnh đạo Sở KH&CN cùng đại diện địa phương và nông dân kiểm tra mô hình phục tráng giống lúa Bao Thai Hồng Định Hoá, nếp Vải Định Hoá tại xóm Bản Lác, xã Kim Phượng, tỉnh Thái Nguyên.

Đáng chú ý, các hoạt động nghiên cứu, phục tráng giống lúa Bao Thai Hồng Định Hóa, nếp Vải Định Hóa tại xã Kim Phượng cho thấy hướng tiếp cận gắn nghiên cứu khoa học với bảo tồn và phát triển sản phẩm nông nghiệp bản địa. Việc gìn giữ những giống cây trồng đặc trưng, kết hợp ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất là cơ sở để nâng cao giá trị nông sản, tạo thêm sinh kế cho người dân miền núi.

Không dừng lại ở khâu sản xuất, khoa học và công nghệ còn được ứng dụng để phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ. Thái Nguyên hiện có 5 chỉ dẫn địa lý, 5 nhãn hiệu chứng nhận và 34 nhãn hiệu tập thể được bảo hộ trong và ngoài nước.

Trong đó, chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” được bảo hộ tại Liên minh châu Âu; nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” được đăng ký tại 6 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, thúc đẩy sản xuất hàng hóa và khẳng định vị thế nông sản địa phương trên thị trường.

Cùng với đó, hoạt động hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ tiếp tục được đẩy mạnh. Việc Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên ký kết hợp tác với Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST) nhằm nâng cao giá trị cây chè, thúc đẩy xuất khẩu cho thấy định hướng đưa công nghệ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản.

Từ thực tiễn này, việc phát triển nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ hướng tới tăng sản lượng mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và tạo ra giá trị kinh tế bền vững.

Mở rộng hạ tầng số, tạo cơ hội tiếp cận dịch vụ cho người dân miền núi

Nếu khoa học, công nghệ góp phần nâng cao giá trị sản xuất thì hạ tầng viễn thông và chuyển đổi số là điều kiện quan trọng để người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi tiếp cận thông tin, tri thức và các dịch vụ thiết yếu.

Với đặc thù địa hình miền núi, dân cư phân bố không đồng đều, việc mở rộng kết nối viễn thông có ý nghĩa trong thu hẹp khoảng cách số giữa các khu vực.

Thái Nguyên: Đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi- Ảnh 2.

Trạm thu phát sóng di động (BTS) được đầu tư tại khu vực miền núi, góp phần mở rộng vùng phủ sóng, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ số cho người dân.

Năm 2025, Thái Nguyên có 5.884 trạm thu phát sóng di động (BTS), phủ sóng 99,5% thôn, bản. Toàn tỉnh có 156 trạm 5G đang hoạt động, phủ sóng khoảng 28% dân số; hơn 357.000 thuê bao cáp quang và 1,6 triệu thuê bao Internet di động.

Những con số này cho thấy nền tảng hạ tầng số đang từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện để người dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã miền núi, tiếp cận thông tin, học tập trực tuyến, tìm hiểu kỹ thuật sản xuất và tham gia các hoạt động kinh tế trên môi trường số.

Cùng với phát triển viễn thông, 100% xã, phường trên địa bàn tỉnh đã có điểm phục vụ bưu chính và cổng thông tin điện tử. Hệ thống dịch vụ công, nền tảng dữ liệu và các kênh tương tác trực tuyến tiếp tục được triển khai, góp phần tạo thuận lợi cho người dân trong tiếp cận thông tin và giải quyết thủ tục hành chính.

Ứng dụng C-ThaiNguyen ghi nhận gần 500.000 lượt tải, tiếp nhận hơn 5.000 phản ánh hiện trường. Các nền tảng số trong giáo dục, y tế cũng từng bước được triển khai, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ trong đời sống.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chuyển đổi số chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi hạ tầng kết nối đi cùng khả năng sử dụng công nghệ của người dân. Vì vậy, bên cạnh mở rộng vùng phủ sóng, việc phổ cập kỹ năng số, hỗ trợ sử dụng dịch vụ công trực tuyến và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh là những yêu cầu cần được quan tâm.

Trong giai đoạn tiếp theo, Thái Nguyên đặt mục tiêu phủ sóng viễn thông đến 100% thôn, bản, mở rộng vùng phủ sóng 5G và tiếp tục hoàn thiện các nền tảng số phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm