Từ vùng trồng, quy trình sản xuất đến sản phẩm cuối cùng, công nghệ đang được đưa vào nhiều khâu của chuỗi giá trị chè Thái Nguyên. Trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu GIS, bản đồ số vùng chè và hệ thống quản lý mã số vùng trồng, tạo nền tảng quản lý thống nhất về vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, tiêu chuẩn và chứng nhận.

Lãnh đạo Sở KH&CN Thái Nguyên kiểm tra mô hình chè tại xã Vô Tranh.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, tối thiểu 70% diện tích chè được lập hồ sơ số và dữ liệu bản đồ GIS; 100% hồ sơ mã số vùng trồng chè được quản lý, cập nhật, giám sát trên môi trường số.
Cùng với quản lý vùng trồng, tỉnh hướng tới xây dựng nền tảng truy xuất nguồn gốc kết nối với cơ sở dữ liệu ngành chè. Thông tin từ vùng trồng, nhật ký canh tác, lô nguyên liệu, mẻ sản xuất, đóng gói đến chứng nhận và điểm bán sẽ từng bước được số hóa, tạo hồ sơ sản phẩm có thể kiểm tra và truy xuất.
Đáng chú ý, các giải pháp nhận diện số, hộ chiếu số sản phẩm và chống giả được định hướng áp dụng cho các sản phẩm chè mang chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể và sản phẩm OCOP. Đến năm 2030, tối thiểu 80% nhóm sản phẩm này có hồ sơ số và truy xuất nguồn gốc.
Để công nghệ thực sự đi vào sản xuất, Thái Nguyên cũng tập trung nâng cao năng lực số cho hợp tác xã, doanh nghiệp và người trồng chè. Việc sử dụng nhật ký số, quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và xây dựng hồ sơ sản phẩm sẽ giúp các chủ thể từng bước chuyển từ quản lý thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu.
Qua đó, công nghệ không chỉ hỗ trợ quản lý ngành chè mà còn tạo thêm công cụ để kiểm soát chất lượng, bảo vệ thương hiệu, minh bạch nguồn gốc và mở rộng thị trường cho chè Thái Nguyên.