
Chuyển đổi số ngành chè cho thấy rõ hơn khả năng biến công nghệ thành giá trị kinh tế.
Điểm đáng chú ý là tỉnh đang chuyển từ giai đoạn "đưa công nghệ vào công việc" sang khai thác dữ liệu để thay đổi phương thức quản trị và tạo giá trị chuyển đổi số thực tế cho người dân, doanh nghiệp.
Từ chuyển đổi số trong công việc đến quản trị trên dữ liệu
Thái Nguyên đang cho thấy một cách tiếp cận ngày càng rõ nét, chuyển đổi số không chỉ là trang bị thêm phần mềm hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường trực tuyến, mà phải làm thay đổi phương thức vận hành của bộ máy.
Một ví dụ nổi bật là hệ thống điều hành tác nghiệp phục vụ công tác Đảng. Theo số liệu được Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên công bố, hệ thống đã được triển khai tại 129/129 đơn vị cấp xã, với 5.389 người dùng; hơn 921.000 văn bản đến và 106.000 văn bản đi đã được xử lý trên hệ thống, tạo luồng xử lý điện tử liên thông từ Trung ương đến cấp xã.
Tại xã Sảng Mộc, nơi có khoảng 3.500 người dân, 99% là đồng bào dân tộc thiểu số, 100% cán bộ, công chức các cơ quan Đảng đã được cấp tài khoản và sử dụng hệ thống điều hành tác nghiệp thường xuyên. Điều này cho thấy chuyển đổi số đang được đưa xuống tận những địa bàn còn khó khăn, thay vì chỉ tập trung ở khu vực đô thị.
Quan trọng hơn, Thái Nguyên đang chuyển trọng tâm sang dữ liệu. Đến đầu tháng 9/2026, tỉnh đã kết nối 51/125 cơ sở dữ liệu vào Kho dữ liệu dùng chung; 74/125 cơ sở dữ liệu đáp ứng tiêu chí "đúng - đủ - sạch - sống", với tổng dung lượng dữ liệu tích hợp trên 850 GB. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa và các hệ thống thông tin được kết nối, chia sẻ dữ liệu.
Dịch vụ công số lấy người dân là trung tâm
Hiệu quả chuyển đổi số cũng được phản ánh trực tiếp qua cách người dân tương tác với chính quyền. Từ giữa tháng 12/2025 đến giữa tháng 8/2026, Thái Nguyên tiếp nhận khoảng 702.865 hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó 620.109 hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến. Tỷ lệ khai thác, sử dụng lại dữ liệu số hóa đạt 98,74%. Bộ Chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp của tỉnh đạt 96,85 điểm, xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố.
Trước đó, trong giai đoạn từ tháng 7/2025 đến tháng 4/2026, tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến của tỉnh đạt 96,83%, tỷ lệ hồ sơ được số hóa đạt 93,64% và tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin, dữ liệu số hóa đạt 98,30%.
Những con số này cho thấy giá trị của chuyển đổi số không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở khả năng giảm giấy tờ, giảm thời gian đi lại và nâng cao khả năng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Kinh tế số bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
Đến hết tháng 8/2026, 100% doanh nghiệp trên địa bàn sử dụng hợp đồng điện tử, 100% doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số trong sản xuất, kinh doanh; 5.050 doanh nghiệp sử dụng tên miền quốc gia ".vn". Tỉnh đặt mục tiêu quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 35% GRDP và doanh số thương mại điện tử chiếm từ 20% trở lên trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
Đáng chú ý, Thái Nguyên đang hình thành hệ sinh thái có sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ, viễn thông và tài chính như Viettel, VNPT, FPT cùng hệ thống ngân hàng. Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp địa phương tiếp cận hạ tầng, nền tảng số, thanh toán điện tử và các giải pháp quản trị hiện đại.
Nếu chính quyền số tạo ra thay đổi trong quản trị thì chuyển đổi số ngành chè cho thấy rõ hơn khả năng biến công nghệ thành giá trị kinh tế.
Thái Nguyên đang hướng tới xây dựng hệ sinh thái số cho toàn bộ chuỗi giá trị chè, từ quản lý vùng trồng, sản xuất, chế biến, truy xuất nguồn gốc đến thương mại điện tử và quảng bá thương hiệu. Khoảng 80% hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh chè đã đầu tư công nghệ đóng gói tự động và sử dụng tem điện tử truy xuất nguồn gốc. Hầu hết doanh nghiệp, hợp tác xã chè cũng đã quảng bá, giới thiệu và bán sản phẩm trên các nền tảng số.
Đáng chú ý, tỉnh đang triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ về chuyển đổi số toàn diện trong sản xuất chè, dự kiến thí điểm trên 10 ha vùng nguyên liệu, ứng dụng ERP, IoT và AI, với tổng kinh phí khoảng 15 tỷ đồng. Thái Nguyên hiện có hơn 24.000 ha chè, giá trị sản xuất khoảng 13,6 nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Không để chuyển đổi số dừng ở đô thị
Một điểm đáng chú ý trong cách làm của Thái Nguyên là đưa chuyển đổi số tới từng cộng đồng dân cư thông qua phong trào "Bình dân học vụ số".
Tỉnh xác định cấp xã, phường là địa bàn trọng tâm, tập trung hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh an toàn, VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, các nền tảng số về y tế, giáo dục, việc làm, sản xuất, kinh doanh và kỹ năng phòng tránh lừa đảo trực tuyến. Tổ công nghệ số cộng đồng, đoàn viên, thanh niên, giáo viên, sinh viên và doanh nghiệp công nghệ được huy động để hỗ trợ trực tiếp người dân.
Đến tháng 7/2026, Thái Nguyên đã có 891.540 chữ ký số công cộng đang hoạt động, tương đương khoảng 66,39% dân số trưởng thành.
Có thể thấy, "sức bật" từ chuyển đổi số của Thái Nguyên đang hình thành từ nhiều lớp: chính quyền số tạo nền tảng quản trị; dữ liệu tạo năng lực điều hành; kinh tế số mở rộng không gian kinh doanh; còn xã hội số đưa những tiện ích công nghệ đến gần người dân hơn.
Thách thức phía trước là tiếp tục làm sạch, liên thông và khai thác hiệu quả dữ liệu; nâng cao chất lượng nhân lực số; đồng thời bảo đảm an toàn thông tin và thu hẹp khoảng cách số giữa các khu vực. Khi những nền tảng này được kết nối thành một hệ sinh thái thống nhất, chuyển đổi số sẽ không chỉ là một chương trình cải cách hành chính mà có thể trở thành động lực trực tiếp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của Thái Nguyên.