Bộ Công Thương đã phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật lĩnh vực công thương, xác định hướng phát triển bền vững, tuần hoàn, thân thiện với môi trường và có giá trị gia tăng cao. Một trong những trọng tâm là hình thành chuỗi giá trị từ nghiên cứu, sản xuất đến thương mại hóa sản phẩm.
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp nhằm cải tiến, tiếp nhận công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm.
Đáng chú ý, 30-50% sản phẩm tạo ra từ Đề án được định hướng thương mại hóa trên thị trường. Các sản phẩm công nghệ sinh học hình thành từ Đề án cũng được đặt mục tiêu thay thế ít nhất 20% hàng nhập khẩu cùng loại.
Đưa công nghệ sinh học vào sản xuất quy mô lớn
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Đề án tập trung hoàn thiện, nâng cấp và mở rộng quy mô các công nghệ đã hình thành; đồng thời tiếp nhận, giải mã và làm chủ công nghệ sinh học tiên tiến để ứng dụng vào sản xuất công nghiệp.
Các hướng được ưu tiên gồm công nghệ enzyme, công nghệ lên men, chiết xuất hoạt chất tinh khiết, dược phẩm sinh học và công nghệ sinh học phân tử. Nguồn nguyên liệu được khai thác từ nông sản, thủy sản, tài nguyên biển, nấm ăn, nấm dược liệu, cây dược liệu, chè, thịt, sữa và phụ phẩm của công nghiệp chế biến.
Đề án cũng chú trọng công nghệ nuôi sinh khối quy mô lớn đối với probiotic, paraprobiotic, prebiotic, postbiotic và các chủng vi sinh vật phục vụ sản xuất; làm chủ công nghệ lên men, sấy khô, bảo quản và ổn định hoạt tính của chủng giống, enzyme và chế phẩm sinh học.

Công nghệ sinh học được định hướng gắn nghiên cứu với sản xuất và thương mại hóa sản phẩm. Ảnh minh họa.
Các sản phẩm được định hướng phục vụ ngành thực phẩm, đồ uống, dược phẩm, thức ăn chăn nuôi và chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Công nghệ sinh học đồng thời được định hướng ứng dụng trong dệt may, giấy, năng lượng, dầu khí và xử lý môi trường nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng và hạn chế phát thải.
Gắn nghiên cứu với doanh nghiệp và thị trường
Để công nghệ đi vào sản xuất, Đề án chú trọng liên kết giữa cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, làm chủ công nghệ và phát triển sản phẩm mới.
Cùng với đầu tư nghiên cứu, việc phát triển máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu và dây chuyền phục vụ sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học trong nước được đặt ra nhằm nâng tỷ lệ giá trị nội địa và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.
Một hướng quan trọng khác là phát triển sản phẩm chế biến sâu từ nguồn nguyên liệu có lợi thế của Việt Nam, đồng thời hỗ trợ xây dựng thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, mở rộng thị trường và nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn, môi trường và truy xuất nguồn gốc.
Việc đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ sản phẩm được thương mại hóa và khả năng thay thế hàng nhập khẩu cho thấy phát triển công nghiệp sinh học đang được gắn chặt hơn với kết quả đầu ra của sản xuất và thị trường. Đây cũng là những yếu tố quan trọng để nhận diện và đánh giá đầy đủ hơn giá trị mà công nghệ sinh học tạo ra đối với các ngành kinh tế.