Kỹ sư Trần Quang Khôi (phải) và cộng sự lắp ráp hệ thống bo mạch cho thiết bị bay không người lái tại Công ty Real - time Robotics Việt Nam (TP.HCM).
Tại Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM, mục tiêu phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế (GRDP) hai con số và kinh tế số chiếm 40% GRDP trong năm 2026 và những năm tiếp theo đã đặt ra một áp lực lớn về mặt giải pháp thực thi.
Muốn tăng trưởng bền vững thì cần phải nâng cao năng suất. Muốn nâng năng suất thì nguồn lực phải được phân bổ đúng chỗ, đúng thời điểm nhờ vào các giải pháp công nghệ.
Phân tích về mục tiêu 40% GRDP đầy tham vọng này, PGS.TS Phạm Thị Thanh Xuân, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ ngân hàng (Đại học Quốc gia TP.HCM), chỉ ra rằng kinh tế số cần được bóc tách và đo lường một cách khoa học theo ba lớp rõ rệt:
Lớp thứ nhất (Lõi số): Bao gồm ngành công nghệ thông tin, sản xuất phần mềm, phát triển nền tảng số và thương mại điện tử.
Lớp thứ hai (Kinh tế số hóa): Các ngành kinh tế truyền thống nhưng có phần lớn giao dịch, quy trình vận hành, thanh toán và quản trị được thực hiện trên nền tảng số.
Lớp thứ ba (Tác động lan tỏa): Phần giá trị gia tăng được tạo ra nhờ số hóa như tăng năng suất lao động, giảm chi phí giao dịch và tăng tốc độ vòng quay vốn.
Dữ liệu thực tế cho thấy, để đạt được chỉ tiêu đề ra, giải pháp không chỉ là tạo thêm các doanh nghiệp công nghệ mới ở lớp lõi, mà vai trò bứt phá nằm ở việc tác động mạnh vào hai lớp sau. Cụ thể là việc ứng dụng công nghệ để số hóa và chính thức hóa khu vực kinh tế phi chính thức, nơi vốn đang vận hành ngoài hệ thống dữ liệu và gây thất thu, làm sai lệch các dự báo chính sách.
Dữ liệu và giải pháp số: Hạ tầng cốt lõi để giải quyết "điểm nghẽn" nguồn lực
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, dữ liệu phải trở thành hạ tầng cốt lõi của quản trị phát triển. Việc ứng dụng các nền tảng số để minh bạch hóa quy hoạch, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp là giải pháp cấp bách. Khi các quy luật đầu tư được dự báo chính xác bằng dữ liệu, dòng vốn thực mới được khơi thông để chảy vào các khu vực tạo ra năng suất cao.
Ở quy mô quản trị siêu đô thị với dự kiến dân số 20-22 triệu người vào năm 2050, kinh tế số còn gắn liền với các bài toán quản lý tài nguyên bền vững thông qua công nghệ tuần hoàn. Ông Trần Bá Dương, Chủ tịch THACO, khẳng định quy hoạch đô thị phải bám sát định hướng quốc gia, lấy kinh tế số làm động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy sự tích hợp giữa các doanh nghiệp công nghệ trong nước với khối FDI để nâng cao năng lực sản xuất trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đồng thời, việc chuyển đổi tư duy từ "quản lý chất thải" sang "quản lý tài nguyên đô thị" dựa trên nền tảng tái chế công nghệ cao sẽ hình thành nên một ngành công nghiệp phục hồi tài nguyên, đóng góp trực tiếp vào cơ cấu kinh tế số của thành phố.
Kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thu hút nhân tài
Mục tiêu kinh tế số chiếm 40% GRDP không thể hiện thực hóa nếu thiếu đi cấu phần quan trọng nhất: Nguồn nhân lực chất lượng cao làm chủ công nghệ.
Để thúc đẩy các phòng thí nghiệm, các doanh nghiệp nghiên cứu như Real-time Robotics Việt Nam liên tục cho ra đời các hệ thống bo mạch, thiết bị bay không người lái nội địa, thành phố cần một cơ chế ưu đãi vượt trội.
Theo kiến nghị từ đại diện các tổ chức hiệp hội, TPHCM cần phối hợp chặt chẽ để xây dựng các chính sách thu hút chuyên gia đầu ngành, nhân tài công nghệ trong và ngoài nước. Một thành phố muốn đạt khát vọng lớn phải có khả năng nhìn thấy vấn đề sớm hơn, phản ứng nhanh hơn và điều chỉnh chính xác hơn thông qua công nghệ.
Đẩy mạnh kinh tế số chính là việc dùng công nghệ và dữ liệu để thay đổi phương thức vận hành của nền kinh tế, nâng cao hàm lượng khoa học trong từng sản phẩm và dịch vụ, từ đó đảm bảo cho mục tiêu tăng trưởng hai con số phát triển một cách bền vững.
(Tổng hợp từ báo Tuổi trẻ, Sài Gòn giải phóng)