Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Trạm Công dân số: Từ "điểm chạm" gần dân đến hạ tầng phát triển công dân số

Không phải chờ đến khi người dân tìm đến cơ quan hành chính, các tiện ích số đang được đưa đến ngay khu dân cư, nơi người dân sinh sống, làm việc và sử dụng dịch vụ hằng ngày. Trạm Công dân số đang được TP.HCM triển khai theo hướng đó, đồng thời mở ra một cách tiếp cận mới trong xây dựng công dân số: lấy dữ liệu làm nền tảng, VNeID làm chìa khóa và trải nghiệm của người dân làm thước đo.

Khi dịch vụ số đến tận nơi người dân sinh sống

Hình dung một người dân cần giải quyết một thủ tục hành chính, kiểm tra một số chỉ số sức khỏe cơ bản hoặc thực hiện một giao dịch số. Thay vì phải di chuyển qua nhiều địa điểm, tìm hiểu nhiều nền tảng khác nhau, các nhu cầu này có thể từng bước được tiếp cận ngay tại khu dân cư thông qua một "điểm chạm" số.

Đó là hướng đi mà mô hình Trạm Công dân số tại TP.HCM đang thử nghiệm và từng bước nhân rộng.

Trạm Công dân số được xây dựng trên nền tảng định danh và xác thực điện tử quốc gia, tích hợp dịch vụ công trực tuyến với các tiện ích dân sinh và chăm sóc sức khỏe. Mục tiêu không đơn thuần là đặt thêm một thiết bị công nghệ tại khu dân cư, mà hình thành một điểm tiếp cận để người dân sử dụng các dịch vụ số thuận tiện hơn.

Một ví dụ cụ thể là tại Khu đô thị Cityland Park Hills, phường Gò Vấp, TP.HCM. Ngày 24/4/2026, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Công an TP.HCM cùng các đơn vị phối hợp tổ chức khánh thành Trạm Công dân số. Đây là trạm thứ 5 được triển khai trong quý I/2026. Tại đây, người dân có thể tiếp cận các tiện ích hành chính công, dịch vụ số và chăm sóc sức khỏe ngay trong không gian khu dân cư. 

Việc mô hình được đưa đến những nơi có đông người sinh sống cho thấy một thay đổi đáng chú ý về cách tiếp cận chuyển đổi số: thay vì yêu cầu người dân phải tìm đến dịch vụ số, dịch vụ số được đưa đến gần người dân hơn.

Điểm đáng chú ý của Trạm Công dân số là cách tích hợp nhiều nhu cầu trong một điểm chạm. Theo thông tin được TP.HCM công bố, mô hình hướng tới 6 nhóm tính năng thiết yếu gồm: Hành chính công; an ninh, an toàn; y tế số; tiện ích dân sinh; tra cứu và đóng phạt nguội; tài chính - ngân hàng.

Trong lĩnh vực y tế, người dân có thể kiểm tra một số chỉ số sức khỏe cơ bản và tiếp cận tư vấn, kiểm tra các chỉ số sức khỏe và mua thuốc ngay tại khu dân cư.

Cách làm này cho thấy giá trị của mô hình không nằm ở bản thân một chiếc máy hay một điểm đặt thiết bị. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kết nối các dịch vụ vốn trước đây được cung cấp rời rạc, đưa chúng về cùng một điểm tiếp cận và từng bước hình thành thói quen sử dụng dịch vụ số trong đời sống hằng ngày.

Đây cũng là lý do TP.HCM đặt mục tiêu phát triển Trạm Công dân số tại 100 địa điểm công cộng trong năm 2026, cùng với các mục tiêu về định danh số, tài khoản số và kỹ năng số của người dân.

Trạm Công dân số: Từ "điểm chạm" gần dân đến hạ tầng phát triển công dân số- Ảnh 1.

Trạm Công dân số đánh dấu bước chuyển đổi phương thức phục vụ người dân dựa trên dữ liệu, từ đơn lẻ sang tích hợp, từ thủ công sang trải nghiệm số liên thông.

"Mảnh ghép" chính sách mới cho công dân số

Nếu Đề án 06 tạo nền tảng dữ liệu và định danh để các dịch vụ số có thể vận hành, thì Nghị quyết số 66.22/2026/NQ-CP về phát triển công dân số đang tạo thêm một lớp chính sách quan trọng: khuyến khích người dân chủ động tham gia môi trường số.

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.22/2026/NQ-CP ngày 09/7/2026, có hiệu lực từ ngày 15/8/2026. Nghị quyết quy định các nguyên tắc phát triển công dân số, quyền và trách nhiệm của công dân trên môi trường số, chính sách khuyến khích của Nhà nước, phát triển ứng dụng định danh quốc gia và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ số.

Đáng chú ý, Nghị quyết không chỉ đặt ra trách nhiệm mà còn quy định quyền lợi cụ thể của công dân số. Công dân có quyền quản lý việc khai thác, sử dụng dữ liệu cá nhân; được tiếp cận các dịch vụ số và được pháp luật bảo vệ trước hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp trên môi trường số. Đồng thời, công dân được hưởng chính sách miễn, giảm phí, lệ phí khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến theo quy định.

Một điểm mới khác là cơ chế khuyến khích gắn trực tiếp với việc sử dụng nền tảng số. Công dân hoàn thành tích hợp 5 loại thông tin, giấy tờ cơ bản trên VNeID và thực hiện các thủ tục hành chính đáp ứng điều kiện theo quy định có thể được miễn, giảm phí, lệ phí tương ứng. Mức độ được hưởng chính sách được hiển thị trên ứng dụng định danh quốc gia và có thể được hệ thống định danh, xác thực điện tử chia sẻ theo yêu cầu để làm căn cứ triển khai chính sách ưu đãi.

Như vậy, câu chuyện công dân số đang chuyển từ "có tài khoản, có ứng dụng" sang một giai đoạn thực chất hơn, người dân sử dụng danh tính số để tiếp cận dịch vụ và đồng thời nhận được những lợi ích cụ thể từ việc sử dụng dịch vụ số.

Theo Nghị quyết 66.22/2026/NQ-CP, ứng dụng định danh quốc gia được định hướng phát triển, mở rộng để cung cấp nhiều tiện ích số cho công dân.

Trong đó có truy cập dữ liệu số của công dân; định danh và xác thực điện tử; hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến; liên kết tài khoản thanh toán, ví điện tử, thẻ ngân hàng, tài khoản tiền di động để thanh toán dịch vụ công, chi trả an sinh xã hội và các giao dịch hợp pháp khác. VNeID cũng được xác định là kênh giao tiếp chính thức giữa người dân với Nhà nước, giữa người dân với doanh nghiệp và giữa người dân với người dân, với yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật.

Đây chính là điểm giao thoa quan trọng giữa Nghị quyết 66.22 và mô hình Trạm Công dân số. Nếu VNeID là nền tảng định danh và giao tiếp số, thì Trạm Công dân số có thể được nhìn nhận như một điểm tiếp cận vật lý giúp đưa hệ sinh thái đó đến gần hơn với những người chưa quen hoặc chưa thuận tiện khi sử dụng dịch vụ số hoàn toàn trực tuyến.

Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa với người cao tuổi, người ít có điều kiện tiếp cận công nghệ hoặc những người vẫn còn tâm lý e ngại khi thực hiện thủ tục trên môi trường số.

Trạm Công dân số: Từ "điểm chạm" gần dân đến hạ tầng phát triển công dân số- Ảnh 2.

Trạm Công dân số phát huy vai trò thế mạnh “gần dân, sát dân”, trở thành điểm tựa y tế an toàn và đáng tin cậy trong những tình huống khẩn cấp, ốm, sốt bất ngờ.

Không để "khoảng cách số" trở thành rào cản mới

Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân có thể sử dụng được những tiện ích mà công nghệ mang lại.

Thực tế tại TP.HCM cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình xây dựng công dân số vẫn còn những điểm nghẽn như đường truyền, khả năng khai thác một số ứng dụng số của người dân và những vướng mắc về thể chế trong việc sử dụng kết quả điện tử. TP.HCM cũng xác định kỹ năng số là một trong những trụ cột quan trọng, với mục tiêu tập huấn kỹ năng sử dụng ứng dụng Công dân số và VNeID cho người dân.

Điều này cho thấy một bài toán quan trọng của giai đoạn tiếp theo không chỉ là "số hóa dịch vụ", mà còn là "số hóa khả năng tiếp cận".

Một người dân có điện thoại thông minh nhưng không biết thực hiện thủ tục trực tuyến vẫn chưa thực sự hưởng đầy đủ lợi ích của chuyển đổi số. Ngược lại, khi có một điểm hỗ trợ ngay tại khu dân cư, được hướng dẫn cách xác thực, nộp hồ sơ, tra cứu hoặc sử dụng các tiện ích số, rào cản về kỹ năng có thể từng bước được tháo gỡ.

Vì vậy, Trạm Công dân số có thể đóng vai trò như một "lớp đệm" giữa công nghệ và đời sống: công nghệ đứng phía sau, còn người dân nhìn thấy trước mắt là một dịch vụ đơn giản, dễ tiếp cận và có người hỗ trợ khi cần.

Điểm mới của mô hình Trạm Công dân số nằm ở sự thay đổi tư duy phục vụ. Trước đây, người dân thường phải xác định mình cần đến cơ quan nào để giải quyết một nhu cầu. Với mô hình mới, câu hỏi có thể được đảo ngược: người dân cần gì, hệ thống có thể cung cấp dịch vụ đó ở đâu và bằng cách thuận tiện nhất?

TP.HCM đã đặt mục tiêu xây dựng mô hình "một cửa số", trong đó dữ liệu được tái sử dụng thay vì yêu cầu người dân cung cấp lại nhiều lần. Thành phố cũng đặt mục tiêu đối với những thủ tục đã hoàn thiện về dữ liệu, thời gian xử lý dịch vụ công không quá 5 phút; người dân, doanh nghiệp chỉ phải nhập thông tin một lần và kết quả được trả dưới dạng điện tử để có thể lưu trữ, tái sử dụng.

Nếu những mục tiêu này được hiện thực hóa đồng bộ, Trạm Công dân số sẽ không chỉ là nơi đặt thiết bị hay hỗ trợ thao tác. Đây có thể trở thành điểm chạm giữa người dân với một hệ thống dịch vụ số được vận hành phía sau bởi dữ liệu dân cư, định danh điện tử, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng số quốc gia.

Quyết định số 826/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 phê duyệt Chương trình Đề án 06 giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035 đã đưa nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất giải pháp "Trạm Công dân số" tại các địa điểm công cộng, cơ quan hành chính và trung tâm dịch vụ vào chương trình. Theo lộ trình được nêu trong quyết định, nhiệm vụ này do UBND các địa phương phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế nghiên cứu, với mục tiêu đưa giải pháp vào triển khai phổ cập từ tháng 1/2027.

Đây là bước chuyển đáng chú ý: từ một sáng kiến được triển khai thực tế tại TP.HCM, Trạm Công dân số được đặt trong lộ trình nghiên cứu để có thể phổ cập rộng hơn.

Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả trên quy mô lớn, vấn đề không chỉ nằm ở số lượng trạm được lắp đặt. Quan trọng hơn là phải bảo đảm hạ tầng kết nối, an toàn dữ liệu, khả năng liên thông giữa các hệ thống, tính dễ sử dụng và kỹ năng số của người dân.

Đặc biệt, khi Nghị quyết 66.22/2026/NQ-CP đã xác lập rõ hơn quyền lợi, trách nhiệm và các chính sách khuyến khích đối với công dân số, các điểm chạm như Trạm Công dân số có thể trở thành một kênh hỗ trợ để những chính sách này đi vào đời sống.

Từ một trạm đặt tại khu dân cư, mục tiêu lớn hơn là hình thành một hệ sinh thái trong đó danh tính số đi cùng dịch vụ số, dữ liệu đi cùng tiện ích và chuyển đổi số đi cùng lợi ích cụ thể của người dân.

Đó cũng là thước đo quan trọng nhất của quá trình xây dựng công dân số: không phải có bao nhiêu ứng dụng được tạo ra, mà là có bao nhiêu người dân thực sự sử dụng được công nghệ để giải quyết công việc nhanh hơn, thuận tiện hơn, an toàn hơn và nhận được nhiều lợi ích hơn từ môi trường số.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm